Úc, Nhật Bản bảo vệ bí mật công nghệ trong trường học

Úc, Nhật Bản bảo vệ bí mật công nghệ trong trường học - Ảnh 1.

Úc, Nhật, Mỹ là các điểm đến hấp dẫn với sinh viên nước ngoài – Ảnh: REUTERS

Kiểm soát chặt

Theo báo South China Moring Post ngày 15-1, các lĩnh vực Nhật quy định là nhạy cảm gồm trí tuệ nhân tạo (AI), mật mã lượng tử và công nghệ máy bay không người lái trong ứng dụng dân sự và quân sự.

Một sinh viên Trung Quốc họ Wang cho rằng những quy định trên được hiểu là nhằm vào sinh viên Trung Quốc.

Tháng 11-2021, Úc công bố danh sách 63 “công nghệ quan trọng” cần được quảng bá và bảo vệ, siết chặt hơn nữa các thông tin mà các đối tác nước ngoài có thể tiếp cận. Các công nghệ này gồm truyền thông 5G, công nghệ lượng tử, AI, in 3D, máy bay không người lái, vắc xin…

Năm 2019, Úc ra dự thảo hướng dẫn nhằm ngăn chặn sự can thiệp của các tác nhân nước ngoài vào các trường đại học của Úc. Một số biện pháp được đề xuất bao gồm tập huấn để sinh viên nhận biết sự can thiệp của người nước ngoài và báo cáo với chính quyền.

Động thái này khiến lượng sinh viên Trung Quốc du học ở Úc giảm 7,5% kể từ năm 2019, theo Bộ trưởng Bộ Giáo dục Alan Tudge.

Năm 2021, Nhật Bản thông báo các trường đại học phải có sự cho phép của Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp trước khi dạy về các công nghệ quan trọng cho sinh viên nước ngoài đã sống ở Nhật được hơn 6 tháng.

Các hướng dẫn mới dự kiến được công bố trong năm nay sẽ đẩy mạnh hơn nữa các biện pháp này bao gồm yêu cầu các trường đại học và viện nghiên cứu công khai nhiều hơn và kiểm soát chặt hơn với nhóm nghiên cứu tiềm năng để tiếp tục nhận được tài trợ.

Dự thảo hướng dẫn sẽ yêu cầu các nhà nghiên cứu báo cáo với trường đại học khi nhận được tài trợ từ các tổ chức bên ngoài. Các trường cũng sẽ chịu trách nhiệm điều tra mối quan hệ giữa sinh viên nước ngoài và chính phủ nước ngoài.

Khó thực hiện

Mặc dù các trường đại học đã thắt chặt các thủ tục, nhiều vấn đề khó khăn được đặt ra. Cụ thể, chỉ 62,5% các trường đại học ở Nhật Bản sàng lọc sinh viên trước khi tuyển, 39,4% cho biết trường có cảnh báo sinh viên nước ngoài không nên mang các công nghệ có thể sử dụng cho mục đích quân sự về nước.

Do các trường và giáo sư không thể biết hết được quan hệ mà mỗi sinh viên nước ngoài có. Để tuân thủ các quy định mới, các trường cần có người hỗ trợ chuyên nghiệp hơn về thủ tục giấy tờ.

Một số công nghệ, như viễn thám, khó rạch ròi giữa mục đích quân sự và dân sự nên khó phân loại từ đầu.

Ryo Hinata-Yamaguchi, trợ lý dự án tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học và công nghệ tiên tiến của Đại học Tokyo, cho biết những lo ngại của Nhật Bản là chính đáng vì nhiều nghiên cứu khoa học và công nghệ tiên tiến của nước này có thể được sử dụng cho các mục đích quân sự.

Do căng thẳng địa chính trị, có nhiều lý do chính khiến Nhật không muốn những công nghệ này rơi vào tay các quốc gia có thể sử dụng chúng chống lại lợi ích của Nhật Bản.

Satoru Nagao, một nhà nghiên cứu tại Viện Hudson có trụ sở tại Washington, cho biết gần đây, cạnh tranh Mỹ – Trung leo thang đã đòi hỏi Tokyo phải kiểm tra lại điểm yếu của hệ thống của Nhật Bản, thiết lập lại quy tắc về công nghệ nhạy cảm, đặc biệt nếu Tokyo hy vọng tiếp tục hợp tác với Mỹ và các đồng minh.

Các nhà quan sát nhận định, những nỗ lực hạn chế việc giảng dạy các công nghệ nhạy cảm cho sinh viên nước ngoài có thể làm xói mòn thêm khả năng cạnh tranh của các trường đại học Nhật Bản.

Tuy nhiên, hậu quả của việc không có thêm các biện pháp bảo vệ còn lớn hơn nhiều.

Mỹ cáo buộc Trung Quốc lấy cắp bí mật công nghệ động cơ máy bay Mỹ cáo buộc Trung Quốc lấy cắp bí mật công nghệ động cơ máy bay

TTO – Bộ Tư pháp Mỹ vừa công bố cáo trạng buộc tội các gián điệp Trung Quốc đã cấu kết với các đồng phạm đánh cắp thông tin về động cơ tuốc bin cánh quạt của dòng máy bay thương mại.

Phương pháp dạy học tích cực: Định nghĩa, cách thức, kỹ thuật

Phương pháp dạy học tích cực được ứng dụng rộng rãi tại nhiều trường học thuộc các quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nó mang lại hiệu quả cao trong công tác dạy và học, thúc đẩy sự sáng tạo, tính chủ động và tích cực ở các em học sinh. Vậy phương pháp dạy học tích cực là gì, hãy cùng Hachium tìm hiểu trong bài viết sau.

Nội dung bài viết:

  1. Định nghĩa phương pháp dạy học
  2. Một số phương pháp dạy học tích cực
  3. 10 kỹ thuật dạy học tích cực hiệu quả
  4. Điều kiện để áp dụng phương pháp dạy học tích cực thành công

1. Định nghĩa phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học chính là cách thức, sự tương tác chung giữa giáo viên và học sinh ở trong điều kiện dạy học nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu của việc dạy học.

Có ba bình diện cần xem xét trong phương pháp dạy học, bao gồm: quan điểm, phương pháp dạy cụ thể và kỹ thuật dạy học.

cac phuong phap day hoc

Sử dụng phương pháp dạy học hợp lý làm gia tăng sự tương tác hai chiều trong giờ học

1.1 Quan điểm về phương pháp dạy học

Được hiểu là tổng thể các định hướng về hành động phương pháp, mà ở đó có sự kết hợp của nhiều yếu tố như: nguyên tắc dạy học; cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học; môi trường và điều kiện dạy học; định hướng cụ thể về vai trò của giáo viên, học sinh khi tham gia vào quá trình dạy học.

Quan điểm dạy học bao gồm các định hướng có tính chiến lược và nó chính là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học.

1.2 Phương pháp dạy học cụ thể

Có rất nhiều phương pháp dạy học như phương pháp thảo luận, nghiên cứu, trò chơi hay xử lý tình huống, đóng vai, học nhóm,… Ở đây, phương pháp dạy học sẽ được hiểu là những hành động, cách thức của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục tiêu của việc dạy học, ở trong những điều kiện dạy học nhất định.

phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học là cách thức của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục tiêu của việc học tập

1.3 Kỹ thuật dạy học

Kỹ thuật dạy học bao gồm các phương pháp, cách thức hành động của giáo viên ở từng tình huống cụ thể, nhằm thực hiện và điều khiển toàn bộ quá trình dạy học. Một số kỹ thuật dạy học cho giáo viên gồm: kỹ thuật chia nhóm, đặt câu hỏi, kỹ thuật hỏi chuyên gia, phòng tranh, kỹ thuật các mảnh ghép hay hoàn thành một nhiệm vụ,…

1.4 Lưu ý

  • Với mỗi một quan điểm dạy học sẽ có phương pháp dạy học phù hợp. Và với mỗi phương pháp dạy học cụ thể cũng có các kỹ thuật dạy học đặc thù. Tuy nhiên, đôi khi cũng có ngoại lệ.
  • Việc phân biệt phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học đôi khi chỉ mang tính chất tương đối. Ví dụ: động não, ở một số trường hợp được xem là phương pháp hoặc kỹ thuật dạy học.
  • các phương pháp dạy học chung cho nhiều môn học. Tuy nhiên cũng có phương pháp đặc thù cho các môn học riêng hoặc một nhóm các môn học.
  • Một phương pháp dạy học hay kỹ thuật môn học sẽ được gọi với nhiều cái tên khác nhau.

một số phương pháp dạy học

Có phương pháp dạy học chung cho nhiều môn học nhưng cũng có phương pháp đặc thù cho từng môn

2. Một số phương pháp dạy học tích cực

2.1 Phương pháp dạy học nhóm

Đây là một trong số phương pháp dạy học tích cực được đánh giá cao hiện nay, bởi nếu giáo viên có thể tổ chức tốt sẽ góp phần thúc đẩy giúp các em học sinh phát huy tính tích cực của bản thân. Đồng thời phát triển khả năng làm việc nhóm, trách nhiệm và khả năng giao tiếp của các em.

Quy trình thực hiện:

  • Cả lớp làm việc:
    • Giới thiệu về chủ đề.
    • Xác định nhiệm vụ chung cho các nhóm.
    • Tạo nhóm.
  • Làm việc nhóm:
    • Chọn chỗ cùng làm việc.
    • Lập kế hoạch về việc cần làm.
    • Đề ra các quy tắc làm việc chung.
    • Giải quyết nhiệm vụ được giao.
    • Chuẩn bị để báo cáo kết quả.
  • Cả lớp làm việc:
    • Các nhóm lần lượt trình bày kết quả.
    • Đánh giá kết quả.

Kỹ thuật chia nhóm:

  • Dựa vào số thứ tự điểm danh, dựa vào màu sắc, các mùa hoặc các loài hoa. Điều kiện chung nhóm là chung một số, một màu, một mùa hoặc một loài hoa.
  • Dựa theo hình ghép: Giáo viên cắt một bức hình thành nhiều mảnh, để cho học sinh bốc ngẫu nhiên (Số bức hình tương ứng với số nhóm cần chia). Điều kiện chung nhóm là các em học sinh có mảnh ghép để cùng tạo thành 1 hình.
  • Dựa theo sở thích: Những em học sinh có cùng sở thích sẽ tự động tạo thành 1 nhóm.
  • Dựa theo tháng sinh: Điều kiện chung nhóm là có cùng tháng sinh với nhau.

1 số phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp học nhóm giúp phát huy khả năng giao tiếp và tính chịu trách nhiệm của học sinh

2.2 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Cũng là một trong các phương pháp dạy học được áp dụng phổ biến hiện nay. Với phương pháp này, giáo viên sẽ kể một câu chuyện có thật hoặc câu chuyện được viết dựa theo các tình huống xảy ra thực trong cuộc sống nhằm chứng minh cho một vấn đề nào đó. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện bằng văn bản, đoạn ghi âm hoặc video.

Quy trình thực hiện:

  • Học sinh sẽ cùng đọc hoặc nghe, xem về một trường hợp điển hình nào đó.
  • Suy ngẫm về trường hợp điển hình.
  • Tiến hành thảo luận dựa theo sự hướng dẫn của giáo viên.

2.3 Phương pháp giải quyết vấn đề

Nằm trong số các phương pháp dạy học mới nhằm kích thích tính tự lực và chủ động giải quyết vấn đề của học sinh. Với phương pháp này, giáo viên sẽ đưa ra các vấn đề nhận thức mà ở đó có sự mâu thuẫn giữa những cái đã biết và chưa biết, và hướng học sinh tìm cách giải quyết.

Quy trình thực hiện:

  • Xác định vấn đề, tình huống cần giải quyết.
  • Tìm kiếm các thông tin có liên quan đến vấn đề, tình huống.
  • Liệt kê các biện pháp để giải quyết vấn đề.
  • Phân tích và đánh giá về kết quả của các biện pháp.
  • So sánh kết quả các biện pháp.
  • Chọn biện pháp tối ưu nhất.
  • Thực hiện theo biện pháp đã chọn.
  • Rút kinh nghiệm khi giải quyết vấn đề, tình huống khác.

phương pháp dạy học mới

Phương pháp giải quyết vấn đề nhằm kích thích tính tự lực của học sinh khi giải quyết vấn đề

2.4 Phương pháp đóng vai

Nếu nhắc đến một số phương pháp dạy học tích cực thiên về thực hành, thì phương pháp đóng vai luôn được nhiều giáo viên áp dụng. Khi sử dụng phương pháp đóng vai, giáo viên sẽ để học sinh thực hành, diễn thử một số cách ứng xử liên quan đến một tình huống nào đó. Tuy nhiên việc diễn thử chỉ là một phần, điều quan trọng nhất vẫn là thảo luận của học sinh sau khi thực hành thử.

Quy trình thực hiện:

  • Giáo viên đưa ra chủ đề, phân nhóm, đưa tình huống và yêu cầu phân vai cho từng nhóm. Bao gồm thời gian chuẩn bị, thời gian diễn của mỗi nhóm.
  • Các nhóm cùng nhau thảo luận.
  • Lần lượt từng nhóm diễn đóng vai.
  • Cả lớp thảo luận, đánh giá về cách diễn, cách ứng xử, ý nghĩa của các cách ứng xử.
  • Giáo viên đưa ra kết luận, định hướng cho học sinh đâu là cách ứng xử tích cực với tình huống đã đưa ra.

2.5 Phương pháp trò chơi

Là phương pháp dạy học mà giáo viên sẽ tổ chức cho các em học sinh tìm hiểu về một vấn đề nào đó thông qua chơi trò chơi. Và phương pháp này thuộc danh sách các phương pháp dạy học mới giúp tăng sự kích thích, hứng thú tìm hiểu vấn đề của học sinh.

Quy trình thực hiện:

  • Giáo viên phổ biến về trò chơi bao gồm tên, nội dung và quy tắc chơi.
  • Tiến hành chơi thử (nếu thấy cần thiết).
  • Cho học sinh bắt đầu chơi trò chơi.
  • Đánh giá khi trò chơi kết thúc.
  • Cùng thảo luận về ý nghĩa của trò chơi.

một số phương pháp dạy học mới

Tìm hiểu về vấn đề nào đó thông qua việc chơi trò chơi

2.6 Dạy học theo dự án (Phương pháp dự án)

Là phương pháp dạy học mà học sinh cần phải thực hiện một nhiệm vụ học tập gắn liền với thực tiễn và có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Nhiệm vụ học tập này đòi hỏi người học có tính tự lực cao, khi phải đảm nhiệm mọi công đoạn gồm lập kế hoạch, thực hiện dự án và đánh giá kết quả của dự án. Phương pháp này được dạy theo hình thức chia nhóm.

Quy trình thực hiện:

  • Bước 1: Lập kế hoạch
    • Xác định chủ đề.
    • Xây dựng tiểu chủ đề.
    • Lập kế hoạch về nhiệm vụ học tập.
  • Bước 2: Thực hiện dự án
    • Tìm kiếm thông tin.
    • Tiến hành điều tra.
    • Thảo luận với các thành viên ở trong nhóm.
    • Nhờ giáo viên hướng dẫn.
  • Bước 3: Tổng hợp kết quả.
    • Tổng hợp về các kết quả tìm được.
    • Xây dựng về sản phẩm.
    • Trình bày kết quả tìm được.
    • Phản ánh lại kết quả của quá trình học tập.

2.7 Phương pháp Bàn tay nặn bột

Hiện nay có 1 số phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm, nghiên cứu, được áp dụng phổ biến cho môn học tự nhiên. Phương pháp bàn tay nặn bột là một trong số đó.

Với phương pháp dạy học này, kiến thức của học sinh sẽ được hình thành thông qua các thí nghiệm. Các em sẽ tự mình tìm tòi nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho những vấn đề được đặt ra ở trong cuộc sống bằng cách tiến hành các thí nghiệm, đọc, điều tra, nghiên cứu các tài liệu.

phương pháp dạy học tốt

Phương pháp bàn tay nặn bột thích hợp áp dụng với môn học tự nhiên

Với những vấn đề khoa học được đưa ra, học sinh bắt đầu bằng cách đặt câu hỏi, giả thiết dựa theo hiểu biết ban đầu, sau đó tiến hành thực hiện thí nghiệm nghiên cứu, cùng nhau thảo luận để đưa ra kết quả. Đây được đánh giá là phương pháp dạy học tích cực giúp khơi gợi được sự tò mò và khám phá cho các em học sinh.

Quy trình 1 tiết dạy của phương pháp bàn tay nặn bột:

  • Bước 1: Nêu ra các tình huống có vấn đề và xác định được vấn đề cần phải giải quyết.
  • Bước 2: Xây dựng các hoạt động nhằm giải quyết vấn đề.
  • Bước 3: Củng cố và đề xuất các định hướng mở rộng.

Quy trình của một thực nghiệm gồm:

  • Bước 1: Nêu ra tình huống có vấn đề cần giải quyết.
  • Bước 2: Học sinh đưa ra các câu hỏi, giả thuyết, dự đoán về kết quả theo nhóm hoặc theo từng cá nhân.
  • Bước 3: Làm thực nghiệm.
  • Bước 4: So sánh kết quả đạt được với dự đoán ban đầu.
  • Bước 5: Đưa ra kết luận.

2.8 Phương pháp dạy theo góc

Là một phương pháp dạy học mới mà ở đó học sinh cần phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, ở các vị trí cụ thể trong phạm vi lớp học, đáp ứng được nhiều phong cách học tập khác nhau.

Phương pháp dạy học theo góc sẽ giúp học sinh lựa chọn hoạt động cũng như phong cách học: Thực hành, khám phá, cơ hội để phát triển khả năng sáng tạo, cơ hội đọc, hiểu các nhiệm vụ do giáo viên đề xuất, cơ hội để mỗi cá nhân áp dụng, trải nghiệm.

Ví dụ khi có các chủ đề về môi trường hoặc giao thông, giáo viên có thể tổ chức các góc bao gồm: Viết, vẽ, đọc, xem video, thảo luận…

phương pháp dạy học là gì

Tăng sự hứng thú, mang lại hiệu quả học tập cao với phương pháp dạy học theo góc

3. 10 kỹ thuật dạy học tích cực hiệu quả

3.1 Kỹ thuật “Các mảnh ghép” (Jigsaw)

Đây là hình thức học tập mà giáo viên sẽ kết hợp các cá nhân tạo thành nhóm, nhằm giải quyết chung một nhiệm vụ với nhiều chủ đề. Kỹ thuật này sẽ khuyến khích các em học sinh tích cực tham gia, và nâng cao vai trò của mỗi cá nhân trong suốt quá trình hợp tác.

Ưu điểm:

  • Phát huy khả năng làm việc theo nhóm.
  • Phát huy tính trách nhiệm của các em học sinh.
  • Giúp học sinh hiểu biết đúng về các vấn đề.
  • Hiểu sâu về các kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Nhược điểm:

  • Kết quả chịu ảnh hưởng từ quá trình thảo luận ở vòng 1. Nếu sai từ vòng 1 thì cả quá trình không mang lại hiệu quả.
  • Có sự không đồng đều giữa thành viên trong nhóm.
  • Không áp dụng được kỹ thuật này với những nội dung thảo luận có mối quan hệ nhân quả.

phương pháp dạy học nhóm

Kỹ thuật các mảnh ghép giúp giải quyết nhiệm vụ chung trong một nhóm, nâng cao vai trò của các thành viên khi hợp tác

3.2 Kỹ thuật Khăn phủ bàn (Khăn trải bàn)

Nằm trong danh sách 1 số phương pháp dạy học tích cực được đánh giá cao. Ở kỹ thuật khăn phủ bàn, giáo viên sẽ tổ chức các hoạt động có sự kết hợp giữa hoạt động nhóm và cá nhân với mục đích thúc đẩy sự tham gia của các em học sinh. Đồng thời phát huy được tính độc lập, trách nhiệm của mỗi cá nhân và tăng sự tương tác giữa học sinh với nhau.

Ưu điểm:

  • Giúp phát huy được tính độc lập và trách nhiệm của mỗi cá nhân người học.

Nhược điểm:

  • Chi phí lớn.
  • Lưu trữ và sửa đổi kết quả khó khăn.

3.3 Kỹ thuật Brainstorming

Kỹ thuật Brainstorming hay còn gọi là “động não, công não” được phát triển bởi Alex Osborn người Mỹ. Đây là kỹ thuật dạy học tích cực, giúp huy động nhiều tư tưởng độc đáo và mới mẻ trong một chủ đề do các thành viên nhóm cùng thảo luận. Các thành viên càng tham gia tích cực thì càng nhiều ý tưởng sẽ được tạo ra.

Ưu điểm:

  • Thực hiện dễ dàng, ít tốn thời gian.
  • Tập trung ý kiến của các thành viên trong nhóm.
  • Khuyến khích các thành viên tham gia thảo luận.

Nhược điểm:

  • Dễ lạc đề.
  • Tốn nhiều thời gian để chọn ra ý kiến tốt nhất.
  • Một số thành viên tham gia tích cực, một số lại không tham gia.
  • Lưu trữ khó khăn, gây lãng phí.

phương pháp giảng dạy

Tạo ra nhiều ý tưởng nhờ kỹ thuật Brainstorming

3.4 Kỹ thuật “Bể cá”

Được áp dụng trong phương pháp dạy học nhóm, học sinh sẽ được phân thành từng nhóm, nhận chủ đề và thảo luận. Những học sinh còn lại trong lớp sẽ ở phía bên ngoài cùng theo dõi các nhóm thảo luận và đưa ra nhận xét, đánh giá về cách ứng xử của học sinh trực tiếp thảo luận.

Điểm đặc biệt của kỹ thuật “Bể cá” chính là luôn có một chỗ trống trong các nhóm thảo luận để học sinh bên ngoài có thể ngồi và đóng góp ý kiến của mình. Trong suốt quá trình thảo luận, vai trò của người thảo luận trong nhóm và người ngồi ở bên ngoài hoàn toàn có thể bị thay đổi.

Ưu điểm:

  • Giải quyết triệt để các vấn đề.
  • Phát triển được kỹ năng quan sát và khả năng giao tiếp của học sinh.

Nhược điểm:

  • Không gian thảo luận cần phải rộng rãi.
  • Cần có sự hỗ trợ của thiết bị âm thanh hoặc phải nói to trong khi thảo luận.
  • Thành viên quan sát bên ngoài khó tập trung vào chủ đề thảo luận.

3.5 Kỹ thuật “Tia chớp”

Là kỹ thuật nhằm huy động sự tham gia của tất cả thành viên trong lớp vào một câu hỏi, với mục đích phát huy khả năng giao tiếp và cải thiện không khí học tập chung của cả lớp. Kỹ thuật “tia chớp” yêu cầu học sinh phải trả lời các câu hỏi thật nhanh và ngắn gọn.

Ưu điểm:

  • Dễ dàng thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào trong buổi học.
  • Giúp phát huy khả năng giao tiếp và cải thiện không khí học tập chung của lớp học.

Nhược điểm:

  • Học sinh khó diễn đạt câu trả lời của mình chỉ trong vòng 1-2 câu ngắn gọn.

các phương pháp dạy học tốt

Huy động cả lớp tham gia với một câu hỏi để tăng khả năng giao tiếp và cải thiện không khí học tập trong lớp

3.6 Kỹ thuật “XYZ” (Kỹ thuật 365)

Được áp dụng nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong nhóm thảo luận. Ở kỹ thuật XYZ, X được xem là số người ở trong nhóm, Y là số ý kiến mà mỗi thành viên trong nhóm đưa ra, còn Z là số phút dành cho mỗi thành viên.

Thông thường, kỹ thuật này sẽ cần đến 6 thành viên trong mỗi nhóm, mỗi người có 5 phút để viết ra 3 ý kiến về cách giải quyết vấn đề trong tờ giấy rồi chuyển cho thành viên khác, nên nó còn được biết đến với kỹ thuật 365.

Ưu điểm:

  • Đảm bảo các thành viên trong nhóm đều phải làm việc.

Nhược điểm:

  • Cần nhiều thời gian cho hoạt động nhóm, đặc biệt là khâu tổng hợp và đánh giá các ý kiến của thành viên.

3.7 Kỹ thuật Mindmap

Trong số các phương pháp dạy học tích cực, kỹ thuật mindmap – kỹ thuật bản đồ tư duy được đánh giá rất cao. Đây thực chất là một hình thức ghi chép mà học sinh sẽ dùng đến màu sắc và hình ảnh để mở rộng cũng như đào sâu các kiến thức, ý tưởng.

Ưu điểm:

  • Đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với nhiều đối tượng học sinh khác nhau.
  • Phù hợp để ôn tập hay liên hệ lý thuyết với thực tiễn.
  • Giúp học sinh nắm nhanh về thông tin, ý tưởng cũng như giải thích, kết nối các thông tin với nhau dựa theo cách hiểu của mình.

phương pháp dạy học mindmap

Kỹ thuật bản đồ tư duy giúp đào sâu ý tưởng thông qua hình ảnh và màu sắc

3.8 Kỹ thuật “Chia sẻ nhóm đôi” (Think, Pair, Share)

Trong các phương pháp dạy học, kỹ thuật “chia sẻ nhóm đôi” ra đời cách đây khá lâu vào năm 1981, được phát triển bởi giáo sư Frank Lyman thuộc đại học Maryland. Kỹ thuật này hoạt động theo hình thức chia nhóm đôi nhằm phát triển khả năng tư duy của các thành viên trong nhóm khi cùng giải quyết một vấn đề.

Ưu điểm:

  • Có sự phối hợp giữa thành viên trong nhóm để tạo ra câu trả lời tốt nhất.

Nhược điểm:

  • Khó quản lý dẫn đến việc học sinh trao đổi về những vấn đề không nằm trong phạm vi bài học.

3.9 Kỹ thuật Kipling (5W1H)

Được áp dụng khi muốn có thêm các ý tưởng mới hay trong trường hợp muốn xét đến nhiều khía cạnh của một vấn đề hay lựa chọn các ý tưởng để phát triển.

Ưu điểm:

  • Ít tốn thời gian, có tính logic cao.
  • Áp dụng được cho nhiều tình huống.
  • Áp dụng được cho nhiều đối tượng học sinh khác nhau.

Nhược điểm:

  • Mang cảm giác bị điều tra.
  • Xảy ra tình trạng mỗi người một ý.
  • Sự kết hợp của thành viên trong nhóm bị hạn chế.

phương pháp dạy học có kỹ thuật

Tạo thêm các ý tưởng mới nhờ kỹ thuật Kipling

3.10 Kỹ thuật KWL (KWLH)

Đây là một hình thức giảng dạy bằng các hoạt động đọc hiểu được Donna Ogle phát triển và giới thiệu rộng rãi từ năm 1986. Với phương pháp dạy học tích cực này, học sinh giữ vai trò chủ đạo.

Sau khi có chủ đề bài đọc, học sinh sẽ suy nghĩ và ghi tất cả những hiểu biết của mình về chủ đề vào trong cột K (What we Know) của biểu đồ. Tiếp đến học sinh sẽ lên một danh sách các câu hỏi mà các em muốn biết rồi ghi vào trong cột W (What we Want to learn). Khi đã đọc xong bài, học sinh lần lượt trả lời câu hỏi ở mục W vào mục L (What we Learn).

Có thêm cột H bổ sung vào biểu đồ với mục đích định hướng nghiên cứu cho học sinh. Cột H là nơi mà học sinh sẽ ghi vào các biện pháp từ hoạt động tìm kiếm thông tin mở rộng, khi các em muốn hiểu rõ hơn từ nội dung ở cột L.

Ưu điểm:

  • Kích thích được sự hứng thú học tập cho học sinh.
  • Tăng khả năng định hướng về học tập cho mỗi cá nhân.
  • Giáo viên và học sinh tự đánh giá về kết quả dạy và học.

Nhược điểm:

  • Lưu trữ sơ đồ trong thời gian dài vì khi hoàn tất bước K và W, phải mất thêm một khoảng thời gian mới thực hiện đến bước L.

1 số phương pháp dạy học

Kỹ thuật dạy học dựa trên hoạt động đọc hiểu với vai trò của học sinh làm chủ đạo

4. Điều kiện để áp dụng phương pháp dạy học tích cực thành công

4.1 Đối với giáo viên

Để áp dụng 1 số phương pháp dạy học tích cực, giáo viên cần phải trải qua quá trình đào tạo mới có thể dễ dàng thích nghi với những thay đổi về chức năng cũng như nhiệm vụ giảng dạy của mình. Bên cạnh đó, thầy cô còn phải nhiệt tình, sẵn sàng tiếp nhận các thay đổi mới của nền giáo dục.

Giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy phải là những người nắm vững về kiến thức chuyên môn, có kỹ năng sư phạm, khéo léo trong cách ứng xử, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin để ứng dụng vào việc giảng dạy, biết cách định hướng học sinh theo đúng mục tiêu giáo dục đã đề ra. Tuy nhiên cũng cần phải đảm bảo được sự tự do nhận thức của học sinh.

4.2 Đối với học sinh

Học sinh phải dần xây dựng các phẩm chất và khả năng thích nghi với phương pháp dạy học mớinhư xác định được mục tiêu của việc học, tạo tính tự giác học tập, có trách nhiệm với việc học của mình và việc học chung của cả lớp, tự giác học tập ở bất kì hoàn cảnh hay điều kiện nào,….

áp dụng phương pháp dạy học

Học sinh cần phát huy tính tự giác học tập mọi lúc mọi nơi

4.3 Sách giáo khoa

Sách giáo khoa nên có sự giảm tải về khối lượng kiến thức, giảm những nội dung buộc học sinh phải ghi nhớ, các câu hỏi tái tạo hay kết luận mang tính áp đặt, thay vào đó nên bổ sung thêm các bài toán về nhận thức, các câu hỏi để phát triển trí thông minh, các gợi ý để học sinh dựa vào đó phát triển nội dung của bài học.

4.4 Trang thiết bị dạy học

  • Đảm bảo trang thiết bị dạy học ở mức độ tối thiểu phục vụ công tác dạy và học.
  • Cung cấp đủ trang thiết bị thực hành để học sinh thực hiện bài thực hành thử nghiệm.
  • Các trang thiết bị đắt tiền sẽ được bố trí để dùng chung. Tuy nhiên, cần phải đảm bảo về nguyên tắc sử dụng, bảo quản theo từng hoàn cảnh cụ thể nhằm giúp học sinh và giáo viên có thể sử dụng ở mức tối đa.
  • Xây dựng phòng học đa năng và kho để chứa thiết bị ở ngay cạnh phòng học bộ môn.

4.5 Đổi mới cách đánh giá kết quả của học sinh

  • Với các phương pháp dạy học tích cực, cần phải đánh giá kết quả học tập học sinh một cách công khai và công bằng. Bộ công cụ sử dụng để đánh giá được bổ sung thêm các hình thức như câu hỏi và bài tập trắc nghiệm. Ngoài ra, nên thực hiện đánh giá toàn bộ quá trình học tập của học sinh về tính tự giác, chủ động trong mỗi tiết học bao gồm các tiết lý thuyết, buổi thực hành.
  • Hệ thống câu hỏi được sử dụng làm kiểm tra, đánh giá phải chứa đựng 70% nội dung ở mức độ chuẩn về mặt bằng học thức cho các em học sinh và 30% là nội dung nâng cao.

phương pháp dạy thành công

Giáo viên cần đánh giá học sinh trong suốt quá trình học tập

4.6 Đối với nhà trường

  • Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chính về việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực cho toàn trường. Đồng thời nhấn mạnh vai trò của phương pháp dạy học trong các hoạt động còn lại của nhà trường.
  • Hiệu trưởng nên giữ thái độ tôn trọng, đồng tình với các đề xuất, sáng kiến mang tính tiến bộ của giáo viên, dù là nhỏ. Bên cạnh đó cũng cần hỗ trợ, chỉ dẫn cho giáo viên khi áp dụng phương pháp dạy học mới vào trong giảng dạy để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện giảng dạy, đặc điểm của từng đối tượng học trò, giúp việc giảng dạy mang lại hiệu quả hơn.

Hy vọng với những thông tin mà Hachium đã chia sẻ trên đây sẽ giúp phía nhà trường, và giáo viên chọn được phương pháp dạy học phù hợp. Đồng thời, làm tốt vai trò, trách nhiệm của mình để giúp các em học sinh có được môi trường, điều kiện học tập tốt nhất và tiếp thu kiến thức thông qua những phương pháp, kỹ thuật dạy học mới nhất.

Hướng dẫn viết báo cáo kết quả thử việc chuẩn

hướng dẫn viết báo cáo kết quả thử việc

Báo cáo thử việc là gì?

Báo cáo thử việc là một loại văn bản tổng kết tất cả kết quả, thành tích làm việc và những kiến thức, kỹ năng mà nhân viên mới đã học hỏi được từ những công việc mà họ được tiến hành trong quá trình thử việc.

Qua đó, họ tự đánh giả về năng lực của bản thân, rút ra được những kinh nghiệm trong quá trình làm việc, đồng thời đưa ra những đề xuất, ý kiến mang tính xây dựng cho công việc sau này.

Viết báo cáo thử việc là một hoạt động không thể thiếu khi nhân viên mới hoàn thành thời gian thử việc.

Nó là một trong những căn cứ chính để người phụ trách hay Trưởng Bộ phận làm đề xuất với Ban Lãnh đạo trong việc có tiếp tục tuyển dụng nhân viên đó nữa hay không?

Có thể bạn quan tâm: Dịch vụ bảo vệ tại Phú ThọCó thể bạn quan tâm: Dịch vụ bảo vệ tòa nhà chuyên nghiệp

Mẫu báo cáo kết quả thử việc

Dưới đây là hai mẫu báo cáo thử việc đạt chuẩn yêu cầu.

Mẫu số báo cáo thử việc số 1

báo cáo kết quả thử việc

Tải mẫu báo cáo tại đây

Mẫu báo cáo thử việc số 2

mẫu báo cáo thử việc

Xem mẫu báo cáo kết quả thử việc tại đây.

Hướng dẫn viết báo cáo thử việc

Căn cứ vào mẫu báo cáo trên, bảo vệ Việt Anh cũng sẽ hướng dẫn cách viết báo cáo kết quả thử việc sao cho đầy đủ và chính xác.

Đầu tiên, điền chính xác tên công ty bạn đã thử việc. Hãy viết tên công ty giống với tên trong biển hiệu.

Phần “Kính gửi”. Thông thường báo cáo thử việc sẽ được nộp cho những thành phần quan trọng, chủ chốt nhất của công ty có quyền hạn trong việc quyết định tuyển dụng nhân sự như: Ban lãnh đạo công ty, Trưởng phòng Hành chính nhân sự, Trưởng bộ phận nơi nhân viên thử việc, …

Lưu ý: Toàn bộ phần này sẽ được viết in đậm để thể hiện sự trang trọng.

Có thể bạn quan tâm: Công ty bảo vệ uy tín, chất lượng hàng đầu khu vực Miền BắcCó thể bạn quan tâm: Công ty bảo vệ Lào Cai

Phần nội dung phải có sự đầu tư kỹ lưỡng vì đây là phần xương sống của bản báo cáo.

  • Phần điền thông tin cá nhân của người thử việc như họ và tên, ngày tháng năm sinh, thời gian thử việc, ….Hay thông tin về người trực tiếp hướng dẫn khá đơn giản, nhân viên chỉ cần khai những thông tin chính xác, phù hợp với thực tế trong thời gian thử việc
  • Phần công việc được giao trong quá trình thử việc, người thử việc nên ghi các hoạt động chính trong công việc mà họ đã thực hiện. Hãy nhớ viết mục này thật ngắn gọn, súc tích để người đọc dễ dàng nắm bắt được những thông tin cần thiết.
  • Kết quả hoàn thành: Người thử việc nên ghi rõ kết quả của từng đầu mục công việc mà bản thân đã đảm nhận. Có thể sử dụng các con số, biểu đồ để làm dẫn chứng. Tốt nhất là tất cả đều thể hiện kết quả tốt / hoàn thành.
  • Tuy nhiên nếu có phần không thực sự tốt thì cũng nên thành thật ghi nhận. Nhân viên đó sẽ được đánh giá là một người thành thật, thắng thắn.

Một lần nữa chúng tôi phải nhắc lại, những nội dung này rất quan trọng, bởi dựa vào đây phía Ban lãnh đạo công ty cũng như Trưởng bộ phận sẽ đưa ra các quyết định có nên kí hợp đồng lao động chính thức với người thử việc hay không?

đánh giá báo cáo kết quả thử việc
Kết quả hoàn thành là cơ sở thiết yếu để đánh giá quá trình thử việc
  • Về phần tự đánh giá

Đây là phần “đắt giá” nhất trong bản báo cáo, nó là cơ hội để bạn thể hiện bản thân và gây ấn tượng với Ban lãnh đạo. Hãy tự chấm điểm về mức độ hoàn thành công việc, kết quả mà mình đạt được một cách công tâm và khách quan nhất.

Bên cạnh việc dó, người thử việc cũng cỏ thể khéo léo nêu ra các ưu điểm của bản thân. Sau đó cũng hãy dung cảm thừa nhận những điểm còn hạn chế (khoảng 1-2 điểm thôi nhé) và xin hứa sẽ khắc phục.

Bởi không ai có thể hoàn hảo về mọi mặt. Thừa nhận và sửa chữa chắc chắn sẽ được ghi nhận hơn việc lấp liếm những mặt còn chưa tốt của mình.

  • Về đề xuất, nguyện vọng

Trong thời gian thử việc, nếu gặp phải những khó khăn thì nhân viên có thể trình bày trong phần này, đồng thời phải đề xuất hướng giải quyết và khắc phục.

Việc nêu ra được những khó khăn rất quan trọng, nó giúp cho cấp trên hiểu những vấn đề bạn gặp phải. Và khi bạn nêu được cách khắc phục thì Ban lãnh đạo sẽ đánh giá bạn cao hơn nữa khi thấy được việc bạn không hề ngần ngại khi gặp khó khăn.

Mặt khác, nếu bạn cảm thấy khả năng của mình có thể phát huy mạnh hơn nữa ở vị trí chủ chốt khác thì có thể đề xuất ý kiến với Ban Lãnh đạo cho được tiếp tục thử việc tại vị trí đó.

Công ty nào cũng mong muốn tạo ra cơ hội tốt nhất để nhân viên phát triển bởi điều đó đồng nghĩa với việc Công ty cũng phát triển.

báo cáo kết quả thử việc của ứng viên
Đề xuất ý kiến với Ban Lãnh đạo

Cũng đừng ngại nói ra mong muốn được trở thành nhân viên chính thức, được có một sự nghiệp phát triển tại Công ty.

Đương nhiên mong muốn phải đi đôi với cam kết rằng bản thân sẽ hoàn thành mọi mục tiêu và nhiệm vụ được giao, không ngần ngại trước khó khăn hay thử thách.

Công ty sẽ nhìn vào kết quả thực tế của bạn, vào cam kết trên giấy tờ của bạn và sẽ muốn cho bạn thời gian để chứng minh những điều này bằng cách lựa chọn bạn trở thành nhân viên chính thức.

Một điểm cũng quan trọng không kém đó chính là chữ ký. Qua cách ký tên, người ta cũng có thể đánh giá được một số nét tính cách của người kí tên.

Tìm hiểu thêm: Công ty dịch vụ bảo vệ ở Quảng NinhTìm hiểu thêm: Bảo vệ sự kiện

Những lưu ý khi việc báo cáo thử việc

Để có một bản báo cáo xuất sắc, gây ấn tượng tốt cho Trưởng bộ phận, Ban lãnh đạo thì ngoài việc trình bày đầy đủ các nội dung theo hướng dẫn như trên, người thử việc còn cần có những lưu ý cụ thể như sau:

  • Thứ nhất, cố gắng trình bày báo cáo một cách rõ ràng, súc tích, ngắn gọn nhất có thể nhưng vẫn phải có đầy đủ những thông tin cần thiết.
  • Thứ hai, nội dung văn bản phải đúng trọng tâm và mục đích, không lan man dài dòng ở những điều không liên quan đến việc tự đánh giá quá.trình thử việc của người thử việc.
  • Thứ ba, phải tập trung làm nổi bật những vấn đề quan trọng, thu hút sự chú ý của người phụ trách như: Kết quả làm việc, Tự đánh giá và phần ý kiến, đề xuất.
  • Cuối cùng, tuyệt đối không được phép mắc lỗi chính tả khi soạn văn bản, trước khi nộp người viết phải kiểm tra và rà soát thật kỹ toàn bộ nội dung.

Trên đây là hướng dẫn của Việt Anh về cách viết báo cáo thử việc đẩy đủ và chính xác nhất hiện nay. Từ những chia sẻ trên đây, bảo vệ Việt Anh xin chúc các bạn thành công đạt được đúng công việc mình mong muốn

Nếu có bất kỳ thắc mắc cần hỗ trợ đừng ngần ngại mà liên hệ với chúng tôi.

Tìm hiểu thêm: Dịch vụ bảo vệ tại Thanh Hoá

CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ BẢO VỆ CHUYÊN NGHIỆP VIỆT ANH

🏠 Địa Chỉ : Số 5, phố Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, Q.Long Biên, TP.Hà Nội

📞 Điện Thoại: 0964.651.686 hoặc 0967201566

📬 Email: congtybaovevietanh@gmail.com

Công ty Bảo vệ Việt Anh hân hạnh được đồng hành cùng quý khách trên chặng đường phát triển.

Cách tính tiền thừa giờ cho giáo viên tiểu học 2021

Tiền thừa giờ của giáo viên tiểu học được quy định thế nào?

Bên cạnh mức lương cứng thì các giáo viên khi dạy thừa giờ còn được hưởng thêm khoản tiền dạy thừa giờ. Vậy khoản tiền này được quy định như thế nào?

Trong bài viết này, TTTD.VN gửi đến bạn đọc Cách tính tiền thừa giờ cho giáo viên tiểu học 2021 theo quy định hiện hành tại Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC.

Quy định về tiền dạy thêm giờ cho giáo viên tiểu học

  • 1. Định mức giờ dạy của giáo viên tiểu học
  • 2. Cách tính tiền thừa giờ cho giáo viên tiểu học
  • 3. Quy định về chi trả tăng giờ cho giáo viên

Cách tính tiền thừa giờ cho giáo viên tiểu học 2021

1. Định mức giờ dạy của giáo viên tiểu học

Định mức giờ dạy của giáo viên tiểu học được quy định tại điều 5,6 Thông tư 03/VBHN-BGDĐT ban hành ngày 23 tháng 6 năm 2017 như sau:

  • Thời gian làm việc của giáo viên tiểu học trong năm học là 42 tuần, trong đó:

– 35 tuần dành cho việc giảng dạy và các hoạt động giáo dục theo quy định về kế hoạch thời gian năm học;

– 05 tuần dành cho học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ;

– 01 tuần dành cho việc chuẩn bị năm học mới;

– 01 tuần dành cho việc tổng kết năm học.

  • Định mức tiết dạy của giáo viên tiểu học là 23 tiết/tuần
  • Định mức tiết dạy của giáo viên trường phổ thông dân tộc bán trú là 21 tiết/tuần ở cấp tiểu học
  • Định mức tiết dạy của giáo viên trường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật là 21 tiết/tuần đối với giáo viên ở cấp tiểu học

=> Định mức số tiết của giáo viên tiểu học được tính theo công thức

Định mức số tiết = Số tiết mỗi tuần x số tuần giảng dạy

Theo đó, định mức tiết dạy của giáo viên tiểu học 23 tiết/tuần x 35 tuần = 805 tiết, giáo viên tiểu học trường dân tộc bán trú và lớp dành cho người tàn tật khuyết tật là 21 tiết/tuần x 35 tuần = 735 tiết.

2. Cách tính tiền thừa giờ cho giáo viên tiểu học

Theo Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC, tiền lương dạy thêm giờ được tính theo các công thức sau:

Tiền lương dạy thêm giờ/năm học = Số giờ dạy thêm/năm học x Tiền lương 01 giờ dạy x 150%.

Trong đó:

  • Tiền lương 01 giờ dạy = [(Tổng tiền lương của 12 tháng trong năm học) : (Định mức giờ dạy/năm)] x [Số tuần dành cho giảng dạy: 52 tuần].
  • Số giờ dạy thêm/năm học = [Số giờ dạy thực tế/năm học + Số giờ dạy quy đổi/năm học (nếu có) + Số giờ dạy tính thêm/năm học (nếu có) + Số giờ dạy được giảm theo chế độ/năm học (nếu có)] – (Định mức giờ dạy/năm)
  • Định mức giờ dạy/năm được tính như sau: Định mức với giáo viên = [Định mức tiết dạy (tiêu chuẩn giờ giảng)/tuần] x (Số tuần dành cho giảng dạy và các hoạt động giáo dục/năm học)

3. Quy định về chi trả tăng giờ cho giáo viên

Các vấn đề về thanh toán tiền lương dạy thêm giờ cho giáo viên được quy định tại Thông tư liên tịch 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC

Trong đó điều 3 thông tư này quy định:

  • Chỉ thanh toán tiền lương dạy thêm giờ ở đơn vị hoặc bộ môn thiếu số lượng nhà giáo do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
  • Đơn vị hoặc bộ môn không thiếu nhà giáo thì chỉ được thanh toán tiền lương dạy thêm giờ khi:

– Có nhà giáo nghỉ ốm

– Nghỉ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội

– Đi học tập, bồi dưỡng, tham gia đoàn kiểm tra, thanh tra

– Tham gia những công việc khác (sau đây gọi chung là đi làm nhiệm vụ khác) do cấp có thẩm quyền phân công, điều động phải bố trí nhà giáo khác dạy thay.

Trên đây, TTTD.VN cung cấp các quy định của pháp luật liên quan Cách tính tiền thừa giờ của giáo viên tiểu học. Mời các bạn đọc các bài viết liên quan tại mục Lao động – tiền lương, mảng Hỏi đáp pháp luật.

Các bài viết liên quan:

  • Lương 15 triệu đóng thuế bao nhiêu?
  • Lương 20 triệu đóng thuế bao nhiêu?
  • Lương 11 triệu có phải đóng thuế không?

Lời chúc giáo viên cuối năm học

Những lời chúc thầy cô khi chia tay

Lời cảm ơn thầy cô giáo cuối năm

  • 1. Lời chúc thầy cô giáo cuối năm học
  • 2. Lời chúc thầy cô ngắn gọn ý nghĩa
  • 3. Thơ tri ân thầy cô cuối cấp

Những lời chúc thầy cô khi chia tay là những lời cảm ơn, tri ân sâu sắc của học sinh lớp 9, lớp 12 trước khi rời xa mái trường thân yêu. Trong bài viết này HoaTieu xin tổng hợp những lời tri ân thầy cô cuối năm, các bài thơ tri ân thầy cô hay nhất, mời các bạn cùng tham khảo.

  • Thư tri ân thầy cô
  • Bài phát biểu trong lễ tri ân của phụ huynh hay nhất

1. Lời chúc thầy cô giáo cuối năm học

1. “Đại diện cả lớp, con xin gửi lời cảm ơn tới cô/ thầy – Những người đã dạy dỗ chúng em thành những đứa con ngoan, những công dân có ích với cuộc đời. Thật khó để có thể nói lời chia tay sau một thời gian dài bên nhau, chúng con chúc thầy cô luôn mạnh khỏe, tươi trẻ và công tác thật tốt.”

2. “Một năm học nữa chuẩn bị kết thúc, chúng con lại sắp phải rời xa thầy cô và bạn bè thân yêu để tiếp tục bước đi trên một con đường hoàn toàn mới. Đây cũng là khoảng thời gian để chúng con nói lời cảm ơn với tất cả thầy cô giáo đã yêu thương và dạy dỗ chúng con thành người. Chúc cô thầy có thật nhiều sức khỏe để mãi thành công trên con đường giảng dạy, trồng người.”

3. “Thầy cô đến khi chúng em gục ngã và rời đi khi chúng em bắt đầu chạm tới thành công. Dù sau này em có là ai, làm gì hay ở đâu đi nữa thì có một sự thật vẫn luôn không đổi chính là e vẫn mãi là đứa học trò nghịch ngợm được dìu dắt bởi cô thầy.”

4. Một năm học nữa lại sắp kết thúc. Và giờ đây, khi viết những dòng này thì cũng là lúc chúng em sắp phải rời ghế nhà trường, xa thầy cô, bạn bè, xa mái trường Nguyễn Trãi yêu dấu, để bước đi trên đoạn đường hoàn toàn mới của cuộc đời. Em thầm cảm ơn dịp cuối cấp đã cho em có cơ hội gửi những lời tri ân này đến thầy cô, bè bạn, đến mái trường thân thương này.

5. Chúng em thấy mình rất may mắn khi được học với thầy. Nhờ có thầy mà tập thể lớp 12A3 K44 trường THPT …….. chúng em được đoàn kết, biết quý trọng nhau hơn. Trong suốt thời gian vừa qua, có rất nhiều lúc chúng em làm thầy phải buồn lòng và thất vọng. Giờ đây, chúng em thấy nhiều khi mình hành động còn quá bồng bột, chưa ý thức được hết mọi việc mình làm. Chúng em thấy mình thật có lỗi. Cảm ơn thầy đã tận tâm hết mình vì chúng em. Cảm ơn thầy đã cho chúng em những năm tháng thật tuyệt vời. Cảm ơn thầy đã cho chúng em những kỷ niệm vui buồn, những hồi ức đẹp nhất của thời học sinh.

6. Trái đất cứ lặng lẽ quay. Cái ánh nắng nóng gắt của mặt trời rọi xuống sân trường báo hiệu một mùa hè lại về. Giờ chia tay đã đến. Viết những dòng này, em không mong nó được đọc trước toàn trường vì em viết văn không được tốt cho lắm, nhưng em vẫn viết. Viết để ghi nhớ công ơn thầy cô – những người cha, người mẹ thứ 2 đã hết lòng dạy dỗ chúng em, rèn luyện chúng em thành người.

7. Một cây lớn khởi đầu từ cái mầm nhỏ, cuộc đời mỗi con người không có thầy cô thì không thể trưởng thành. Em xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc của gần 1000 học sinh và đặc biệt là của 306 học sinh khối 12 tới các thầy cô. Chúng em biết chặng đường học tập trước mắt còn rất nhiều khó khăn thử thách, nhưng chúng em rất tự tin vì chúng em đã được thầy cô nuôi lớn trí tuệ, làm giàu lòng nhân ái – những phẩm cách quan trọng nhất của mỗi con người.

8. Dù mệt nhọc, nóng bức, mồ hôi chảy dài bên mái tóc ngắn, cô vẫn nhiệt tình dạy dỗ chúng em, quan tâm đến từng đứa chúng em trong lớp. Chúng em tự cảm thấy cô đặt kỳ vọng rất nhiều vào chúng em. Những lần chúng em bị điểm kém, bị cô nhắc nhở, chúng em thấy rất xấu hổ vì đã làm cô buồn và thất vọng. Giờ đây, chúng em đã hiểu rằng cô làm như vậy là muốn chúng em cố gắng hơn để chuẩn bị cho tương lai phía trước mà sắp tới là kì thi đại học. Trong em, cô luôn là người thầy tận tâm, được các thế hệ học trò yêu quý và kính trọng.

9. Công ơn lớn lao của thầy cô, chúng con không biết phải đền đáp như thế nào? Chúng con biết rằng có nhiều lúc đã làm thầy cô buồn lòng, không vui. Chúng con xin hứa sẽ cố gắng học tập tốt hơn nữa để có thể phần nào bù đắp những lỗi lầm của mình.

10. Cám ơn thầy cô đã dạy dỗ chúng em thành những đứa con ngoan, những công dân có ích với cuộc đời. Chúng em chúc thầy cô có những niềm vui và kiến thức bất tận.

Lời chúc giáo viên cuối năm

11. Tự hào và cảm động trước thành tích và công lao của các thầy, các cô, chúng con xin gửi tới những người cha, người mẹ thứ hai của mình lời tri ân sâu sắc nhất.

12. Có thể thầy không nhớ em trong hàng vạn học trò, nhưng em vẫn nhớ từng nét mặt biểu cảm của thầy giờ lên lớp. Những bài giảng của người là hành trang qúy báu để em có thể vững bước trên đường đời.

13. Chúng con biết, thầy cô đã phải vất vả như thế nào khi lái những con đò, trải qua bao nhiêu sóng, bao nhiêu gió, thầy cô vẫn một lòng vì chúng con, che chở, dìu dắt chúng con. Những lúc chúng con chùn bước, bàn tay ấm áp của thầy cô lại nâng đỡ nhẹ nhàng. Những lúc chúng con bất lực, giọng nói truyền cảm của thầy cô đem đến cho chúng con thêm nghị lực. Thầy ơi, cô ơi, ngàn lần chúng con cảm ơn người!

14. Có thể thầy không nhớ em trong hàng vạn học trò, nhưng em vẫn nhớ từng nét mặt biểu cảm của thầy giờ lên lớp. Những bài giảng của người là hành trang qúy báu để em có thể vững bước trên đường đời. Cảm ơn thầy!

15. Chúng con biết, thầy cô đã phải vất vả như thế nào khi lái những con đò, trải qua bao nhiêu sóng, bao nhiêu gió, thầy cô vẫn một lòng vì chúng con, che chở, dìu dắt chúng con. Những lúc chúng con chùn bước, bàn tay ấm áp của thầy cô lại nâng đỡ nhẹ nhàng. Những lúc chúng con bất lực, giọng nói truyền cảm của thầy cô đem đến cho chúng con thêm nghị lực. Thầy ơi, cô ơi, ngàn lần chúng con cảm ơn người!

2. Lời chúc thầy cô ngắn gọn ý nghĩa

1. Với tất cả tấm chân tình mà con muốn gởi đến thầy cô, chúc cho tất cả thầy cô luôn vui vẻ tràn ngập niềm tin trong cuộc sống, ngày nào cũng luôn gặp may mắn, và thành công trên con đường dạy học của mình.

2. Thầy ơi! Tuổi tác đã hằn sâu những vết nhăn trên trán thầy, làm tóc mai thầy thêm sợi bạc, nhưng tấm lòng yêu thương của thầy đối với chúng em, mãi mãi không nhạt phai…

3. Thầy ơi! Thầy đứng trên cương vị thiêng liêng đó, như một tháp chỉ đường chỉ dẫn hết lớp người này đến lớp người khác, hướng về phía trước, hướng về phía trước…

4. Chúc các thầy cô dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc để tiếp tục dìu dắt nhiều thế hệ học trò đến với những bến bờ tri thức.

5. Chúc các thầy cô luôn đủ tâm, trí và lực để ngày càng cống hiến nhiều hơn nữa vì các em học sinh thân yêu.

6. Thầy là đốm lửa đã nhen nhóm lên ngọn lửa tâm hồn của chúng em. Thầy là bậc thềm đá để chúng em bước từng bước tiến lên phía trước. Trong hành trình cuộc đời, thầy đã làm phong phú linh hồn em mở mang trí lực của em, nhóm lên cho em ánh sáng hy vọng. Cám ơn thầy, thầy giáo của em.

3. Thơ tri ân thầy cô cuối cấp

Công ơn thầy cô

Kinh mài, chữ giũa, mực nghiênDạy trò con chữ đẹp duyên học đườngMỗi ngày cắp sách đến trườngƯơm mầm tri thức làm gương bao người

Lúc thầy mới tuổi ba mươiHay thương giúp trẻ, hay cười vị thaKhông màn nhung gấm lụa làChỉ chăm con chữ để đà dạy răn

Mong trò học giỏi siêng năngKhơi nguồn trí tuệ, tài năng cho đờiGiáo viên nét đẹp rạng ngờiBiết bao thế hệ muôn đời tôn vinh

Ơn cô nghĩa thắm đậm tìnhTỏa vầng giáo hạnh cho mình ước mơNhân ngày nhà giáo làm thơChúc cho hết thảy thầy cô yêu nghề!

Ơn thầy

Trăm năm Đạo giữ ở đờiTiên học chữ Lễ sau rồi chữ VănƠn Thầy khai sáng chữ NhânCông Thầy vun đắp bao lần chữ Tâm

Dạy luôn chữ Hiếu tình thâmKhắc ghi chữ Nghĩa theo năm tháng ngàyChữ Đức Thầy dạy đến nayCả luôn chữ Tín mai này lập danh

Chữ Trung thấm nghĩa sẽ thànhCó thêm chữ Chí xứng anh hùng rồiChữ Hướng làm vốn cuộc đờiTheo cùng năm tháng chữ Người đã lên

Lời Thầy em vẫn không quênBao nhiêu chữ ấy mang bên suốt đờiCho dù vật đổi sao rờiƠn Thầy khắc cốt những lời năm xưa.

Tấm lòng thầy giáo

Lòng thầy nhân hậu thanh caoBảng đen phấn trắng xiết bao nghĩa tìnhThương tà áo trắng xinh xinhHọc trò tinh nghịch ánh nhìn thơ ngây

Cho dù vất vả đắng cayĐứng trên bục giảng vẫn say với nghềĐâu cần hứa hẹn tuyên thềTrái tim son đỏ đêm về trở trăn

Quyết tâm vượt mọi khó khănCho thuyền cập bến an toàn ai ơiCác em đi bốn phương trờiDõi theo bạc tóc gởi lời yêu thương.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của TTTD.VN.

Văn mẫu lớp 11: Phân tích khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Dàn ý 10 mẫu) Những bài văn mẫu lớp 11

Phân tích khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử gồm dàn ý chi tiết kèm theo 10 bài văn mẫu hay nhất được TTTD.VN tổng hợp từ các bài làm của học sinh trên toàn quốc. Qua đó giúp các bạn lớp 11 có thêm nhiều tư liệu tham khảo, rèn luyện kỹ năng viết văn ngày một hay hơn.

Phân tích khổ thơ thứ 2 của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ giúp các bạn cảm nhận được một bức tranh sông Hương nên thơ, huyền ảo, phảng phất tâm trạng u buồn, cô đơn của nhà thơ. Vậy sau đây là dàn ý và 10 bài văn mẫu, mời các bạn cùng theo dõi tại đây.

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất

  • Dàn ý phân tích khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
  • Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 1
  • Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 2
  • Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 3
  • Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 4
  • Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 5
  • Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 6
  • Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 7
  • Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 8
  • Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 9
  • Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 10

Dàn ý phân tích khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

I. Mở bài:

– Dẫn dắt và giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Giới thiệu khổ hai

II. Thân bài:

– Khổ hai là bức tranh sông nước nhuốm màu tâm trạng

– Mây gió: ngược chiều , trái tự nhiên, chia cắt đôi ngả

– Dòng nước: nhân hóa ” buồn thiu”

– Dòng sông không còn là sự vật vô tri vô giác

– Sự chảy trôi buồn một nỗi buồn ly tán

– Hoa bắp lay: gợi buồn

– Thuyền và sông trăng: hình ảnh ảo, khó phân định vừa mơ vừa thực

– Trăng: chứa đựng vẻ đẹp tác giả luôn muốn gửi gắm

– Dòng sông trăng: trăng tan vào nước để trôi chảy từ vũ trụ về nơi xa.

– “kịp” không chỉ là khát khao mong đợi mà còn âu lo

III. Kết bài:

– Tóm tắt nội dung khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ và nêu lên giá trị, những đóng góp của khổ 2 với cả bài thơ.

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 1

Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt đặc sắc của phong trào Thơ mới. Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng nói của một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu cảnh vật, yêu con người nồng nàn, tha thiết. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là bài mang một tình yêu, khát khao cuộc sống như vậy. Khổ thơ thứ 2 của bài thơ mang đến một hoài niệm và tâm trạng lo âu của thi sĩ.

Mở đầu bài thơ, người đọc đã cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và vẻ đẹp tâm hồn người thi sĩ. Ta thấy thi sĩ tuy phải sống cuộc đời đầy bi kịch nhưng vẫn khát khao được sống và yêu đời tha thiết.

Khổ thơ thứ hai được mở ra, khiến người đọc cảm nhận được hoài niệm về cảnh sông nước đêm trăng, hòa theo đó là tâm trạng lo âu, phấp phỏng của thi sĩ. Cảnh sông nước đêm trăng được gợi ra:

“Gió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Dòng sông có nhiều cách hiểu, nhưng dù hiểu theo cách nào thì vẫn gợi ý thức về sông Hương-linh hồn của Huế. Cảnh vật được miêu tả rất nhẹ nhàng, êm ả, gợi đặc điểm riêng của Huế: gió khẽ lay, mây khẽ bay, hoa bắp khẽ đung đưa, chuyển động rất nhẹ nhàng, êm ả, gợi không gian rất thanh bình, rất Huế. Cảnh vật đượm buồn: buồn thiu, buồn sâu lắng, buồn nhuốm vào không gian, cảnh vật, thường là nỗi buồn từ thế giới bên ngoài tác động. Câu thơ như dài ra, căng ra, khiến nỗi buồn như dằng dặc. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật “nhân hóa”, dòng sông đã trở thành một sinh thể, có tâm trạng, có hồn, mang nỗi niềm của con người. Cảnh vật như nhuốm màu chia ly “Gió theo lối gió mây đường mây”. Câu thơ tách nhịp 4/3 chia làm hai nửa: một gió một mây. Từ “gió” được điệp lại ở vế một, đóng khung một thế giới đầy gió, chỉ có gió, chỉ riêng gió. Từ “mây” điệp ở vế hai, tạo nên một thế giới mây khép kín chỉ có mây. Vậy là hai sự vật vốn dĩ chỉ đi liền với nhau thì nay tác biệt và chia lìa. Gió đóng khung trong gió, mây khép kín trong mây. Câu thơ mang đến một hiện thực phi lý về hiện thực khách quan, nhưng rất có lý về hiện thực tâm trạng. Thi sĩ đang sống trong cảnh chia ly, cách biệt, sống trong cảnh đời đầy nghịch lý cho nên gió cứ gió, mây cứ mây. Từ “lay” mang một nỗi buồn trong ca dao, chỉ hoạt động rất nhẹ của sự vật hiện tượng khi có gió nhẹ. Nó mang nỗi buồn truyền thống của ca dao, thổi vào nỗi buồn muôn thuở của con người.

Hai câu thơ sau, ta nhận ra được tâm trạng lo âu, phấp phỏng của thi sĩ:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay”

Cảnh vật được gợi ra một cách lung linh, huyền ảo, tràn ngập ánh trăng, mang ý nghĩa vừa thực vừa ảo. “Sông trăng” có thể hiểu là dòng sông tràn ngập ánh trăng, cũng có thể là trăng tuôn chảy thành dòng. “Thuyền trăng” là con thuyền chở đầy trăng, cũng có thể hiểu là trăng giống như hình ảnh một con thuyền. Dù hiểu theo cách nào thì trăng đã tràn ngập cả không gian, vừa thực vừa ảo, tạo nên một cảm giác mơ hồ. Trong thơ của Hàn Mặc Tử có cả một miền trăng, để có một thế giới tri âm, chất chứa tâm sự, giải tỏa những niềm đau, trăng đối với Hàn Mặc Tử là một người bạn tri âm. “Thuyền ai” lại gợi ra một danh từ phiếm chỉ. Hai câu thơ chứa đựng cả những hình ảnh mâu thuẫn. Câu dưới không có trăng, ý thơ phi lý về hiện thực nhưng chúng ta có thể lý giải được khi dựa vào tâm trạng của chủ thể trữ tình. Trăng lúc có lúc không, mong manh và mờ ảo, người tri kỷ cũng mờ ảo và mong manh nên lo âu, phấp phỏng là thế. Chờ trăng là chờ sự tri âm, chờ sự đồng điệu, chờ sự sẻ chia và chờ được khát khao, giao cảm với đời, là một con người bình thường mong muốn sự giao cảm. Từ “kịp” thể hiện một tâm trạng lo âu của nhà thơ, tâm trạng đợi chờ, khao khát. Qua đó thể hiện được quỹ thời gian sống đang bị vơi cạn đi từng ngày, cuộc chia lìa vĩnh viễn có thể đến bất cứ lúc nào. Với một người bình thường nếu không trở về tối nay thì còn nhiều những đêm khác, nhưng với Hàn Mặc Tử nếu thuyền không trở về tối nay, không có sự tri âm thì thi sĩ sẽ ra đi vĩnh viễn trong đau buồn.

Những cảm nhận khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ cho ta thấy được hoài niệm của tác giả về cảnh sông nước đêm trăng, đồng thời cũng hiểu được tâm trạng lo âu, phấp phỏng của nhà thơ. Tác giả cũng đang chờ đợi sự tri âm, sự chia sẻ để dịu bớt nỗi đau trên hành trình trở về thế giới bên kia. Đó hay chăng chính là sự xót xa trong bi kịch cuộc đời của một thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh.

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 2

Ai đó đã từng nói “Thơ là tiếng lòng. Đọc thơ, ta nghe thấy tiếng nói cất lên từ sâu thẳm trái tim của thi sĩ. Thơ là sự lên tiếng về thân phận. Đến với bài thơ, ta cảm được tình cảnh, tình thế số phận của nhà thơ”. Và “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử là một bài thơ như thế. Đọc thơ của Hàn Mặc Tử, ta thấy được một trong những nét độc đáo làm nên phong cách thơ rất lạ của ông, đó là mạch thơ đứt đoạn mà thống nhất, nghĩa là bề ngoài kết cấu như rời rạc nhưng lại có sự thống nhất trong chiều sâu của mạch cảm xúc. Nếu khổ thơ đầu là sự bừng sáng kí ức của hoài niệm về vườn Vĩ Dạ lúc hửng đông thì khổ thơ thứ hai lại cảnh xứ Huế đêm trăng thơ mộng cùng bao nỗi niềm chia lìa, lạc loài bơ vơ, buồn thương tuyệt vọng:

Gió theo lối gió mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay.

Chỉ bằng vài nét chấm phá tinh tế, gợi cảm Hàn Mặc Tử đã gợi dậy một cách thần tình cả linh hồn của xứ Huế đêm trăng thơ mộng, huyền ảo. Ở phương diện tả cảnh, mới đọc câu thơ “Gió theo lối gió mây đường mây” cứ tưởng là phi lý nhưng ngẫm kĩ đó lại là sản phẩm của ngòi bút xuất thần. Hàn Mặc Tử đã gợi tả tinh tế, chính xác tài hoa vẻ êm dịu của mây trời xứ Huế. Êm dịu đến mức ta thấy gió thổi mà như mây đứng yên. Hai chữ “buồn thiu” gợi tả vẻ dùng dằng, lặng lờ của dòng nước sông Hương. Nói như Hoàng Phủ Ngọc Tường thì dòng nước sông Hương cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Sông Hương chảy chậm, thực chậm, đó là điệu slow tình cảm mà dòng sông Hương dành cho xứ Huế. Trong đêm trăng Hương giang thật huyền ảo ấy, bầu trời trong vắt, trăng vằng vặc dải ánh vàng trên sông. Dòng nước bỗng hóa thành dòng sông trăng, những con thuyền gối bãi ăm ắp đầy trăng. Hàn Mặc Tử vốn say trăng, yêu trăng là vậy. Bài thơ nào của ông cũng có đôi câu về trăng. Đọc “Đây thôn Vĩ Dạ”, dễ thấy đây là những vần thơ dịu êm và huyền ảo nhất trong dòng thơ trăng của thi sĩ.

Bị cuộc đời tuyệt giao từ chối, thơ ca thiên nhiên là nơi Hàn Mặc Tử chút bầu tâm sự, giãi bày lòng mình. Ngoại cảnh dường như chỉ là cái cơ để thi sĩ bày tỏ tâm sự, trải niềm đau của hồn mình, bức tranh “Đây thôn Vĩ Dạ” cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Ngay ở trong câu thơ đầu tiên của khổ thơ thứ hai, ta đã thấy được sự chia lìa, ngang trái:

“Gió theo lối gió mây đường mây” ,Gió mây luôn đi đôi với nhau, sóng đôi cùng nhau, vậy mà ở đây lại chia lìa xa cách, gió một đằng, mây một nẻo. Tại sao vậy? Có phải chăng trái tim thi sĩ luôn trĩu nặng chia lìa, thành ra nhìn đâu cũng thấy chia ly cách biệt. Không chỉ gió mây chia lìa, sông nước hắt hiu, dòng nước buồn thiu hoa bắp lay. Dòng sông ôm lấy nỗi buồn ngậm ngùi câm lặng, rười rượi. Dòng sông vốn ủ sẵn mối sầu hay sự chia lìa, ly tán của gió mây đã gieo vào lòng sông chết lặng? Hay mối sầu thăm thẳm trong lòng của thi sĩ đã ám bào dòng sông? Khó có thể lý giải một cách rõ ràng được. Chỉ thấy đọc câu thơ lên, lòng ta bỗng trào dâng một nỗi niềm bâng khuâng mà da diết, khắc khoải mà khôn nguôi. Phụ họa với dòng nước buồn thiu là bông hoa bắp xám bạc khẽ lay trong gió. Động từ “lay” tự nó vốn không vui, không buồn như trong câu thơ này, không hiểu sao nó lại ẩn chứa nỗi niềm hiu hắt đến vậy. Có phải chữ “lay” ấy đã mang theo nỗi buồn trong câu ca dao:

Ai về Rồng Dứa, ao ChuôngGió lay bông sậy bỏ buồn cho em

Trong không gian nghệ thuật, hình ảnh hoa bắp lay thật tủi sầu. Tất cả dường như đang bỏ nơi này mà đi. Gió bay đi, mây bay đi, dòng nước cũng trôi xuôi, chỉ còn bông hoa bắp cô đơn, côi cút, vật vờ trên triền sông hoang vắng. Động thái “lay” như một sự níu giữ vu vơ, một lưu luyến vô vọng. Hình ảnh hoa bắp “lay” cứ như hiện thân cho thân phận lạc loài, bơ cơ, bị cuộc đời lãng quên của thi sĩ.

Đối mặt với xu thế tất cả đang bỏ đi, rời xa mình, thi sĩ chợt ao ước có một thứ gì đó ngược dòng trôi chảy trở về với mình, gắn bó với mình. Với Hàn Mặc Tử, đó là trăng, và cũng chỉ có chăng mà thôi:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay

Tại sao Hàn Mặc Tử lại mong ngóng ao ước, khao khát có trăng như vậy? Phải chăng bị chôn vùi trong lãnh cung chia lìa, mù tối, “không có niềm trăng và tiếng nhạc” nên thi sĩ ao ước có trăng như thế? Hơn thế, với Hàn Mặc Tử, chí có trăng sao là bất tử. Đặc biệt, với thi sĩ, trăng không chỉ đơn thuần là nguồn sáng, huyền ảo, diệu kì nhất của thiên nhiên mà trăng là biểu tượng cho cuộc sống tươi đẹp, tràn ngập hạnh phúc mà thi sĩ khao khát. Với những ý nghĩ như thế, giờ đây, “trăng là bám víu duy nhất”, là tri ân, tri kỷ, là cứu tinh với Hàn Mặc Tử. Giọng điệu, chữ nghĩa trong câu thơ bật lên niềm khát khao, da diết, khắc khoải đến cháy bỏng. Câu thơ mang vóc dáng của một lời khẩn cầu, khẩn nguyện tha thiết. Nhưng thật xót xa, bi kịch thay cho thi sĩ, ngay trong lời khẩn cầu da diết đến cháy bỏng ấy, ta thấy hằn lên một nỗi lo âu hoài, tuyệt vọng, đến đau đớn. Nỗi niềm ấy ghim chặt vào mấy chữ “kịp tối nay”. Cơ hội đón trăng, đắm mình trong trăng thật ngắn ngủi mong manh biết chừng nào.

Chỉ còn đêm nay thôi, sáng mai đã là một dấu chấm hết. Lưỡi hái tử thần đang kể tận cổ, chuông nguyện hồn ai đã dóng lên. Cơ hội mong manh, thời gian ngắn ngủi là thế mà bến sông trăng cứ ở mãi ngoài kia xa vời vợi. Không dùng hình thức cầu khiến, câu thơ là lời hỏi hoài nghi đầy tuyệt vọng. Có lẽ khi cất lên lời khẩn cầu tha thiết, thi sĩ đã có lời giải đáp cho mình. Chẳng bao giờ con thuyền chở trăng về kịp tối nay cho thi sĩ. Thi sĩ sẽ mãi rời xa cõi đời này trong đau đớn, tuyệt vọng. Đọc những vần thơ này, ta cảm thấy quặn lòng đau đớn. Vọng về đâu đây dự cảm xót xa:

Một mai kia ở bên khe nước ngọcVới sao sương anh nằm chết như trăngChẳng tìm thấy nàng tiên mô đến khócĐến thương anh và rửa vết thương tâm.

Với bút pháp gợi tả, hình ảnh tinh tế, “Đây thôn Vĩ Dạ” là một miền quê hương đất nước, Vĩ Dạ-xứ Huế mộng và thơ. Bài thơ còn là tiếng lòng uẩn khúc của một trái tim yêu người, yêu đời, thiết tha, mãnh liệt trong vô vọng. “Đây thôn Vĩ Dạ” xứng đáng là kiệt tác thơ Hàn, một viên ngọc chói lọi nghìn năm.

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 3

Phong trào thơ mới năm 1932-1945 là sự nở rộ của cái tôi cá nhân. Có thể thấy nếu thơ trung đại gắn liền với những điều lớn lao, ước lệ thì thơ mới gắn liền với cảm xúc. Như nhà thơ Hàn Mạc Tử nói rằng: “tôi làm thơ nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”. Về cơ bản thơ Hàn luôn hướng tới quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật nhưng cái đẹp trong thơ ông lại riêng biệt, nó là nét đẹp kì dị, đau thương đan xen với những thứ hư ảo. Thiên nhiên trong thơ ông cũng vậy, nhuốm màu tâm trạng, như thực mà như mơ:

Gió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?

Bốn câu thơ được trích trong bài thơ nổi tiếng Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử đã vẽ lên một bức tranh sông nước xứ Huế nhưng bức tranh ấy cũng đượm nỗi buồn lo. Mở đầu khổ thơ với hình ảnh ” gió” và “mây”. Gió và mây xưa kia thường ” gió thổi mây bay” nhưng trong thơ ông hai sự vật ấy lại chia làm đôi ngả.

Những thứ vốn dĩ không thể tách rời thì hồn thơ Hàn Mạc Tử đã chia cắt những thứ không thể cắt chia. Bản thân dòng nước cũng là một vật vô tri vô giác trong tự nhiên nhưng với biện pháp nhân hóa ” dòng nước buồn thiu” khiến nó có những cảm xúc buồn, vui của con người. Điệu chảy ” buồn thiu” của dòng sông Hương lững lờ yên tĩnh như điệu làn êm ả. Không những vậy dường sự chảy trôi vô định của dòng nước thấm đẫm nỗi buồn ly tán của sự vận động giữa mây và gió hay chính là sự mặc cảm chia lìa của Hàn Mạc Tử lây lan sang cảnh vật.

Đúng như lời Nguyễn Du đã nói trong truyện Kiều ” lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Trên dòng sông Hương xứ Huế ấy là những “hoa bắp lay” khẽ lay động ở đôi bờ, rất nhẹ và rất khẽ, đặt cùng gió, mây, nước hoa bắp “lay” ấy trong ca dao và cũng gặp cái buồn ấy trong thơ , trong nỗi buồn của người chinh phụ, Trúc Thông có viết: “Lá ngô lay ở bờ rông”.

Cảnh sông Hương xứ Huế hiện lên thật buồn , gió mây đôi ngả, hoa bắp lay , hoang vắng rợn ngợp thấm thía nỗi buồn của sự thê lương. Nỗi buồn thi sĩ hòa hợp với nhịp buồn xứ Huế cùng những khát khao khôn nguôi:

Thuyền ai chở bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay

Trong tâm trạng thẻ lương ấy, chợt bật lên những ước ao hy vọng là có một điều gì đó có thể trở về với mình để níu giữ, để bám víu. Dường như ước mơ của thi sĩ thường gắn với trăng, với thuyền thể hiện khao khát tri âm. Bởi thuyền chở trăng mang một vẻ đẹp mà tác giả luôn hướng tới, vẻ đẹp hư ảo huyền hoặc khó phân định . Đây quả là một sản phẩm của trí tưởng tượng với dòng sông trăng đang trôi chảy, hay trăng đang lan mình thành nước để trôi chảy từ vũ trụ về nơi xa. Thuyền chở trăng vừa mơ vừa thực. Bên cạnh những khát khao mong đợi ấy còn là những lo âu qua từ “kịp”, nỗi mong ước thầm kín đã tìm được nơi gửi gắm là con thuyền trên sông trăng nhưng càng khao khát hy vọng thì lại càng lo âu bởi nỗi mặc cảm vì hiện tại ngắn ngủi. Khát vọng thì ít mà cảm giác tuyệt vọng thì lấp đầy tâm hồn. Những mong muốn tưởng chừng giản đơn ấy của Hàn Mặc Tử lại gắn liền với những đau thương và dự cảm đổ vỡ.

Nếu khổ thơ mở đầu là cảnh thực thì cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ dạ nghiêng về thế giới ảo. Trong nỗi buồn da diết thì nhà thơ muốn nương tựa vào cái đẹp của tình đời tình người nhưng càng trông đợi thì vẫn không tránh khỏi những tuyệt vọng để rồi tác giả chìm sâu vào cõi mộng. Khổ thơ thứ hai này góp phần tạo sự liên kết và giá trị sâu sắc cho cả bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ giúp khẳng định tài năng và thể hiện những cảm xúc chân thật nhất của Hàn Mặc Tử- nhà thơ “điên”.

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 4

Trong phong trào Thơ Mới các nhà thơ được tự do thể hiện cái tôi cá nhân của mình. Nếu như Xuân Diệu thể hiện tình yêu thiên nhiên yêu con người nhưng vẫn cô đơn hoài nghi của mình, Lê Trọng Lư thì thả sức phiêu lưu cùng những bài ca tình yêu thì Hàn Mạc Tử lại quằn quại đau đớn trong những vần thơ về bệnh tật. Đọc thơ Hàn Mạc Tử ta không thể nào không nhớ đến bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – một bài thơ chở đầy những cảm xúc của nhà thơ về con người về mảnh đất Huế thương. Đặc biệt trong bài thơ ấy ta ấn tượng nhất với những cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ khi nó mang đầy bi kịch và chất chứa bao nỗi buồn.

Bài thơ được sáng tác khi nhà thơ nhận được tấm bưu thiếp của người con gái mang tên một loài hoa đó là nàng Hoàng Cúc. Nhà thơ gặp cô gái ấy ở Huế và đã có một khoảng thời gian ở cạnh nhau. Cả nhà thơ cũng như cô gái đều hiểu được tấm lòng của mình trái tim của mình nhưng khổ nỗi nhà thơ vốn là người nhút nhát. Trước Hoàng Cúc cũng có biết bao cô gái phải lòng ông cũng như ông mến họ nhưng ông lại không một lần nào ngỏ lời, dần dần những cô gái ấy không thể đợi chờ thêm được nữa nên đã rời xa ông. Và Hoàng Cúc cũng không ngoại lệ. Khi đã chia xa thì cô gái ấy đã đi lấy chồng nhưng trong lòng vẫn coi ông là một người bạn. Biết tin ông bị bệnh cô gái ấy đã gửi cho ông một tấm bưu thiếp để hỏi thăm và trách móc sao không về chơi thôn Vĩ. Vậy là bây nhiêu nỗi nhớ niềm thương con người và cảnh vật Huế thương cứ thế ngập đến nhà thơ một cách tự nhiên.

Đoạn thơ thứ hai mang đến cho chúng ta biết bao nhiêu trăn trở suy nghĩ của mình về cuộc sống và số phận của nhà thơ tài năng này. Đây có thể coi là đoạn mang tâm trạng nhất, buồn nhất bi kịch nhất.

Mở đầu khổ thơ nhà thơ đã nhắc đến sự chia ly buồn bã. Bởi hiện tại làm cho nhà thơ luyến tiếc những gì đã qua và bốn bức tường cách ly kia chính là sự cản trở ngăn cách:

“Gió theo lối gió, mây đường mây”

Theo quy luật tự nhiên thì gió thổi mây bay vậy mà ở đây nhà thơ lại tách mây và gió ra, gió theo lối gió còn mây đi đường mây thể hiện sự chia ly cách trở. Nhà thơ sầu thảm buồn bã nên đã phá quy luật của tự nhiên để thể hiện sự khắc nghiệt của sự chia ly này. Gió và mây ở đây có phải chính là nhà thơ và người con gái Huế phúc hậu xinh đẹp ấy. Hay cũng chính là nhà thơ và cuộc đời này. Ngày nhà thơ ra đi khỏi Huế nhà thơ không biết được đó lại là ngày cuối cùng và vĩnh viễn không thể quay lại thăm con người cảnh vật nơi đây được nữa. Hàn Mạc Tử vẫn còn lưu luyến lắm cái cuộc đời này vậy mà số phận đưa đẩy làm sao để cho nhà thơ phải mắc một căn bệnh không thuốc chữa, để cho nó ngày ngày phá hoại cơ thể, nhà thơ phải chịu đau đớn. Chính vì thế mà Hàn Mạc Tử nhìn đâu cũng thấy chia ly cách xa. Nhà thơ có nỗi sầu vạn kỉ Cù Huy Cận cũng đã từng thể hiện sự chia ly qua hình ảnh:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Cũng sầu đấy, chia ly đấy nhưng sao nó chưa trở thành bi kịch như câu thơ của hàn Mặc Tử được nỗi buồn không chỉ lan tỏa trên bầu trời nơi mà ánh mắt của nhà thơ hướng tới để tìm sự hy vọng mà nó còn lan tỏa khắp cảnh vật nơi đây. Bởi:

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”

“ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Dòng nước kia như được nhân hóa cũng biết buồn giống y như thi sĩ vậy, tâm trạng không tốt thì nhìn đâu cũng thấy không vui. Ta có thể cảm nhận được dòng nước kia lững lờ trôi chậm như thế nào để cho nỗi buồn của nhà thơ càng có chỗ chiếm đóng, càng dằn vặt nhà thơ nhiều hơn. Cơn gió kia cũng không mạnh mẽ, không tươi mát không mang lại cảm giác xao xuyến cho con người. Nó chỉ khẽ lay hoa bắp bên sông. Những từ “buồn thiu” , “khẽ” sao mà khiến cho người ta đau lòng đến thế.

Trước dòng sông, bên bờ hoa bắp ấy lại xuất hiện con thuyền, bến cũ, trăng mờ:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó”

Đại từ ai vang lên không biết rằng đó là thuyền của Hoàng Cúc của người dân xứ Huế hay của ai. Hay đơn giản nhà thơ chỉ nói một cách bâng quơ như thế. Chính sự bâng quơ ấy lại thể hiện được tâm trạng của nhà thơ. Đó là một tâm trạng mơ hồ, khó tả, đau mà lại không đau, nhớ mà lại thương, vui khi nhận được tấm bưu thiếp của Hoàng Cúc nhưng lại không vui vì hiện thực này. Con thuyền ấy chắc cũng đi hết chặng đường của một ngày và nó đang nằm im trên bến đậu. Chợt nghĩ đến nhà thơ sống cũng được gần nửa đời người mà giờ cũng trong trạng thái nằm im một chỗ. Thế nhưng con thuyền kia chỉ nghỉ ngơi rồi sáng mai lại lên đường tiếp tục qua sông này sông khác còn Hàn Mạc Tử thì chỉ có một đời người vậy thôi. Ánh trăng như in từng nét lờ mờ trên dòng sông ấy. Một bức tranh nên thơ nên họa mà sao lại buồn man mác thế này!

Đặc biệt nhất, ấn tượng nhất, bi kịch nhất lại chính là câu thơ cuối cùng của khổ thơ này:

“Có chở trăng về kịp tối nay?”

Một câu hỏi tu từ vang lên mà không có lời giải đáp. Từ“kịp” chính là từ mang đầy bi kịch. Nhà thơ như lo lắng bối rối khi nghĩ không biết con thuyền kia có chở được ánh trăng về kịp tối nay. Chở ánh trăng hay chính là trở người con gái kia đến kịp với nhà thơ. Ông không tham lam gì cả mà ông chỉ lo sợ rằng cái lưỡi hái tử thần có thể cướp ông đi khỏi thế gian này bất cứ lúc nào và điều ông mong muốn chỉ là gặp lại người xưa một lần thôi.

Cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đem lại cho ta cảm xúc về tình cảm và cuộc đời của nhà thơ, Ai mà không thương xót cho số phận không may mắn ấy. Khi người ta sắp phải rời xa cuộc đời này và họ còn quá trẻ vẫn còn hoài bão, vẫn còn tình yêu dang dở thì họ sẽ hiểu nhà thơ đã đau khổ như thế nào.

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 5

Hàn Mặc Tử, một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới, thơ của ông luôn phảng phất nỗi buồn, nổi tiếng trong số các sáng tác của Hàn Mặc Tử là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được in trong tập thơ “Đau thương”. Bài thơ là một bức tranh phong cảnh thôn Vĩ nhưng cũng là bức tranh tâm cảnh chứa đựng nhiều tâm trạng, cảm xúc và tâm sự của nhân vật trữ tình, đặc biệt trong khổ thơ thứ hai, vẻ đẹp thiên nhiên và tâm hồn con người đã được đan xen hòa quyện vào nhau.

“Gió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay ?”

Có thể nói ở khổ thơ này Hàn Mặc Tử đã hướng tâm trí của mình về dòng sông Hương, một hình ảnh đã gắn liền với thôn Vĩ Dạ, sông Hương hiện lên với vẻ êm đềm, trầm mặc, thơ mộng trữ tình, nhân vật trữ tình hay chính là tác giả nhìn con sông mà trong lòng chứa đựng nhiều suy tư, cảm xúc. Hai câu thơ đầu tác giả dùng bút pháp tả thực vẻ đẹp êm đềm, khoan thai của xứ Huế:

“Gió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Mọi cảnh vật dường như chậm rãi: gió khẽ thổi, mây nước lững lờ trôi, hoa bắp khẽ đung đưa lay động, nhà thơ đã dùng biện pháp nhân hóa với cả gió, mây và nước, chúng như mang tâm trạng và cũng có sự liên kết, gắn kết với nhau: có gió mây mới bay, có gió thì dòng sông mới có sóng nước, chúng thường đi với nhau khiến cho cảnh vật trở nên sống động hơn, thế nhưng ở đây mây và gió lại xa rời nhau, gió và mây mỗi bên một đường một ngả tạo nên sự xa cách chia ly. Ít mây ít gió mà mây gió lại không có cùng nhau nên dòng sông cũng đành “buồn thiu”, cây cỏ cũng chỉ lay động rất nhẹ, cảnh vật trở nên thiếu sự sống, đây là một hình ảnh đẹp nhưng lại rất hiu quạnh, lặng lẽ và đượm buồn. Hai câu thơ sau khắc họa rõ tâm trạng của nhân vật trữ tình hay chính là nhà thơ:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?”

Tuy mang tâm trạng u buồn, cô đơn nhưng trong tâm hồn của tác giả vẫn chan chứa tình yêu thiên nhiên và con người xứ Huế, dưới cái nhìn của tâm hồn nhà thơ, dòng sông đã không còn là một dòng sông bình thường có nước chảy mà đã trở thành một dòng “sông trăng”, dòng sông chứa đầy ánh sáng trăng vàng, hình ảnh đó khiến cho cảnh vật càng thêm huyền ảo, thơ mộng. Con thuyền có thực trên dòng sông cũng được chuyển đổi thành một con thuyền đậu trên bến sông trăng, thuyền chở trăng về một bến nào đó trong mộng tưởng của nhà thơ. Câu hỏi tu từ “Có chở trăng về kịp tối nay?” cho thấy tác giả nôn nóng, chờ đợi, mong muốn con thuyền chở trăng về trong tối nay chứ không phải là một tối nào khác, phải chăng cái “tối nay” đó là một tối thật buồn, thật cô đơn, nhà thơ muốn được tâm sự với trăng, và cũng chỉ có trăng mới hiểu được nỗi lòng nhà thơ. Mong chờ trăng cũng cho thấy Hàn Mặc Tử rất yêu trăng, ông cũng yêu cảnh vật và con người Huế nhưng hai thứ đó không thấu hiểu và không đáp lại được tình yêu của nhà thơ. Nhà thơ mong muốn gặp được trăng cũng giống như khao khát gặp được một tình yêu tha thiết, kín đáo, nhưng đó là sự chờ đợi khắc khoải, khôn nguôi.

Qua khổ thơ thứ hai bài thơ “Đây thôn vĩ dạ” của Hàn Mặc Tử chúng ta cảm nhận được những tâm tư của nhà thơ nhờ bức tranh thiên nhiên xứ Huế, tuy những tâm trạng đó chỉ là của riêng tác giả nhưng lại có sức ảnh hưởng, có sự cộng hưởng rộng rãi và bên lâu trong lòng người đọc. Chỉ một đoạn thơ bốn câu ngắn ngủi nhưng vẫn chứa đựng tất cả, thiên nhiên xứ Huế, tình yêu của tác giả với xứ Huế nói chung và Vĩ Dạ nói riêng.

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 6

Hàn Mặc Tử được biết đến là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh nhất trong phong trào thơ mới. Thế nhưng thơ của ông lại phản phất một chút gì đó mơ hồ và đầy bí ẩn đến mức Hoài Thanh hết lời ngợi khen thơ ông như một nguồn thơ dào dạt và lạ lùng.

Không những thế, Hoài Thanh đã phải bỏ ra một tháng trời để nghiên cứu toàn bộ thơ Hàn Mặc Tử và công nhận Vườn thơ Hàn rộng rinh không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh. Phải chăng vì cuộc đời ông mang nhiều bi thương và số phận vô cùng bất hạnh mà thơ của ông luôn thể hiện một tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời trần thế đến vậy? Và trong số các tác phẩm ấy, nổi bật nhất và đậm chất Hàn Mặc Tử nhất có lẽ là Đây thôn Vĩ Dạ.

Mở đầu khổ 2 của bài Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử đã đề cập ngay đến hình ảnh thiên nhiên sinh động:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Hình ảnh gió và mây từ bao đời nay đã gắn liền với nhau như đôi bạn tri kỷ, không thể tách rời – gió thổi mây bay. Thế nhưng, qua biện pháp sử dụng nghệ thuật nhân hóa đầy sáng tạo của mình, Hàn Mặc Tử đã tạo nên một nghịch lý chưa từng có từ trước đến nay. Ông vẽ lên một bức tranh thiên nhiên bao la rộng lớn: có gió – nhưng gió theo lối gió; cũng có mây, nhưng lại mây đường mây.

Mây gió đôi đường, đôi ngả. Đồng thời, Hàn Mặc Tử còn sử dụng nhịp thơ một cách vô cùng tinh tế – nhịp 4/3. Cách ngắt nhịp này đã giúp cho câu văn của ông tách thành 2 vế đối nghịch nhau, một bên là gió, bên còn lại là mây khiến sự chia lìa, cách xa này lại càng thêm xa cách. Từ đó, hai người bạn tri kỉ ấy, tưởng chừng như không thể nào xa rời, lại ngoảnh mặt quay lưng, đôi ngả chia ly.

Quả thật, có lẽ Chế Lan Viên đã đúng khi nói Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ tan biến đi, và còn lại của cái thời này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử. Chỉ có ông mới có thể biến cái tưởng chừng như phi lý trong hiện thực lại trở nên vô cùng hợp lí trong thơ văn.

Nhưng mọi vật Hàn Mặc Tử nhân hóa chỉ đơn thuần để diễn tả cảnh gió, cảnh mây. Nguyễn Du đã từng viết trong tác phẩm nổi tiếng của ông Truyện Kiều rằng: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Hàn Mặc Tử buồn vì biết mình mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, quái ác; buồn vì vẫn còn luyến lưu những cảnh vật thơ mộng và buồn vì mối tình đơn phương với người con gái xứ Huế chỉ còn lại trong giấc chiêm bao! Nhưng trên tất cả, có lẽ ông sợ nhiều hơn là buồn. ông sợ một ngày nào đó mình chẳng còn tồn tại trên cõi đời này nữa.

Có phải chăng vì buồn, vì sợ mà cảnh Huế vốn dĩ rất thơ mộng, trữ tình đã dần nhuốm một màu bi ai đến não lòng:

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Từ trước đến nay, sông Hương được biết đến như một vẻ đẹp tinh khôi, dịu dàng và được xem là một trong những biểu tượng lớn của xứ Huế. Vì thế sẽ chẳng lấy làm lạ nếu Sông Hương luôn trở thành đề tài chính trong các tác phẩm thơ ca nước ta. Sông Hương không chỉ được nhắc đến với một tính yêu nồng nhiệt, chân thành mà cháy bỏng trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo:

Sông Hương hóa rượu ta đến uốngTa tỉnh, đền đài ngả nghiêng say…

Thế nhưng, dưới ngòi bút tài tình của Hàn Mặc Tử, sông Hương lại hiện ra với một vẻ u sầu, ảo não. Buồn thiu là cái buồn nhè nhẹ nhưng dai dẳng, nó len lỏi và thấm dần vào tâm hồn của thi nhân và lan sang cả những thứ vô tri vô giác: dòng nước, hoa bắp. Để rồi, dòng nước ấy lại trôi đi một cách lững lờ; hoa bắp kia lại lay động, đong đưa thật chậm, thật nhịp nhàng theo từng nhịp đưa của gió. Dường như nỗi buồn của thi nhân được hòa quyện dần vào nỗi buồn của thiên nhiên, của vạn vật làm cho buồn lại càng thêm buồn, cô đơn lại càng thêm hiu quạnh.

Buồn bã là thế, cô đơn là thế! Nhưng khi trời xuống trăng lên, không chỉ cảnh vật, mà cả tâm tư, tình cảm con người cũng chuyển mình thay đổi: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó.Câu thơ hiện lên mang theo một khung cảnh tràn ngập ánh trăng – người bạn tâm tình của tác giả. Thật dễ dàng đề thấy trăng có mặt khắp mọi nơi: trăng chất đầy trên con đò đơn độc đậu lặng lẽ bên bờ; trăng trải dài, dát vàng cả một bến đò rộng lớn; trăng tan chảy hòa quyện vào con sông Hương lặng lẽ trôi hững hờ.

Phải là người có một tâm hồn yêu trăng, say trăng đến điên dại mới có thể tưởng tượng ra được hình ảnh bến sông trăng vô cùng đặc sắc này! Trước đây, trong thơ Trương Kế thời Đường chỉ mới xuất hiện Thuyền ai đậu bến Cô Tô; trong Xuân giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư, 1300 năm về trước chỉ có Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng. Thì nay có thể nói rằng hình ảnh sông trăng của Hàn Mặc Tử là vô cùng đặc sắc và tinh tế.

Với sự tinh tế và sáng tạo đó, con thuyền ở hiện thực đã dần đi vào thế giới mộng tưởng nhờ vào sự bao phủ của ánh trăng huyền ảo. Liệu rằng có phải Hàn Mặc Tử đã mượn sự huyền ảo, mộng mị của vầng trăng để che lấp đi niềm đau và nỗi buồn của hiện tại? Bởi ông luôn nghĩ về thơ với một quan niệm có phần kỳ lạ, khác người: Thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ ước ao trở lại trời xưa. Không chỉ có thế, từ trước đến nay,trăng luôn xuất hiện trong những vần thơ của ông một cách kỳ lạ hơn gấp mấy lần:

…Nước hóa thành trăng trăng ra nướcLụa là ướt đẫm cả trăng thơm….Say! Say lảo đảo cả trời thơGió rít tầng cao trăng ngả ngửaVỡ tan thành vũng đọng vàng khôTa nằm trong vũng trăng.

(Say trăng- Hàn Mặc Tử)

Thế mà giờ đây, hình ảnh vầng trăng trong Đây thôn Vĩ Dạ lại đậm chất trữ tình hơn, đằm thắm hơn: Có chở trăng về kịp tối nay? Câu hỏi tu từ được thốt lên chứa đầy nỗi niềm âu lo, day dứt của người thi sĩ. Nhưng vì điều gì mà nhà thơ phải đợi trăng về chính xác trong tối nay, chứ chẳng phải là tối mai hay bất kì tối hôm nào khác? Hơn ai hết, có lẽ ông là người hiểu rõ căn bệnh mình mắc phải và khoảng thời gian ngắn ngủi mà mình còn có thể tồn tại trên cõi đời này.

Chính vì vậy, trong lòng nhà thơ trỗi dậy trong lòng một nỗi niềm, một khát khao nhỏ bé – được gặp trăng, được tận mắt nhìn thấy người bạn tri kỉ của mình trong đêm nay để cùng được san sẻ nỗi buồn, san sẻ nỗi cô đơn, tuyệt vọng cùng với vầng trăng ấy!

Vầng trăng với ông lúc này như một tia hi vọng nhỏ nhoi, mong manh chỉ còn le lói chút ít ánh sáng cuối cùng trong màn đêm u tối. Nó cũng chính là lý do khiến Hàn Mặc Tử không ngừng bồn chồn, lo lắng rằng: liệu chiếc thuyền ấy, con đò ấy có kịp đưa trăng về cùng ông trong tối nay?

Qua bốn câu thơ tuy ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn giàu tính tượng trưng, giàu sức gợi hình, gợi cảm, cùng với các biện pháp nghệ thuật: nhân hóa, sử dụng câu hỏi tu từ, tả cảnh ngụ tình… được sử dụng một cách vô cùng điêu luyện và tuyệt diệu.

Đoạn thơ không chỉ giúp bạn đọc hiểu thêm về tâm tư, tình cảm từ sâu bên trong đáy lòng của một nhà thơ khi sắp phải xa rời chốn trần thế, mà nó còn phần nào khẳng định tài năng và tâm hồn yêu cuộc sống, yêu quê hương đất nước sâu nặng.

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 7

Nếu như thơ trung đại gắn liền với những điều lớn lao, ước lệ thì thơ Mới gắn liền với những cảm xúc cá nhân. Có thể thấy giai đoạn 1932-1945 là giai đoạn nở rộ của cái tôi cá nhân người nghệ sĩ. Nhà thơ Hàn Mạc Tử đã nói rằng: ” tôi làm thơ nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”. Về cơ bản thơ ông luôn hướng tới quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật nhưng cái đẹp trong thơ ông lại riêng biệt, nó là nét đẹp kì dị, đau thương đan xen với những thứ hư ảo. Thiên nhiên trong thơ ông cũng vậy, nhuốm màu tâm trạng, như thực mà như mơ:

Gió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?

Mở đầu khổ thơ với hình ảnh ” gió” và “mây”:

Gió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Gió và mây luôn luôn gắn bó với nhau ” gió thổi mây bay” nhưng trong khổ thơ này hai sự vật ấy lại chia làm đôi ngả. Câu thơ tách thành hai vế khác nhau, mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh gió khép lại cũng gió, mở đầu vế thứ hai là mây thì kết thúc cũng là mây. Từ đó ta thấy “gió” và “mây” như những kẻ xa lạ, quay lưng với nhau. Những thứ vốn dĩ không thể tách rời thì hồn thơ Hàn Mạc Tử đã chia cắt những thứ không thể cắt ấy. Dòng nước cũng chỉ là một vật vô tri vô giác trong tự nhiên nhưng với biện pháp nhân hóa ” dòng nước buồn thiu” khiến nó trở nên có những cảm xúc buồn, vui của con người. Điệu chảy ” buồn thiu” của dòng sông Hương lững lờ yên tĩnh như điệu làn êm ả. Và dường như sự chảy trôi vô định của dòng nước thấm đẫm nỗi buồn li tán của sự vận động giữa mây và gió cũng có thể là sự mặc cảm chia lìa của Hàn Mạc Tử lây lan sang cảnh vật. Như Nguyễn Du đã nói ” người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Trên dòng sông Hương xứ Huế ấy là những “hoa bắp lay” khẽ lay động ở đôi bờ, rất nhẹ và rất khẽ, đặt cùng gió, mây, nước hoa bắp “lay” ấy trong ca dao và cũng gặp nỗi buồn ấy trong thơ , trong nỗi buồn của người chinh phụ. Sông Hương vốn đẹp đẽ và thơ mộng đã bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâu thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng lòng “buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi. Lòng sông buồn, bãi bờ của nó còn sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Hai câu thơ đã mở ra bức tranh thiên nhiên ảm đạm nỗi buồn hiu hắt mang dự cảm về hạnh phúc chia li nhuốm màu chia lìa, sự sống mệt mỏi yếu ớt. Thi sĩ tạo ra hình ảnh này không phải bằng thị giác mà bằng cái nhìn của tâm trạng, tâm hồn mang mặc cảm của một người luôn gắn bó thiết tha với đời mà đang có nguy cơ phải chia lìa.

Hai câu thơ tiếp là nỗi nhớ, là hoài niệm của nhân vật trữ tình về sông nước, đêm trăng và tâm trạng xót xa, nuối tiếc:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?

Cảnh sông nước được miêu tả gắn với hình tượng trăng. Sông trở thành sông trăng, thuyền trở thành thuyền trăng, bến trở thành bến trăng gợi không khí mơ hồ huyền ảo, đẹp một cách thơ mộng làm cho không gian nghệ thuật ở đây càng thêm hư ảo, mênh mang. Dòng sông của hiện thực đã trở thành dòng sông của cõi mộng. Cảnh vật đã được ảo hóa gợi lên cảm giác chơi vơi trong tâm trạng của nhà thơ. Hình ảnh con thuyền cô đơn nằm trên bến sông trăng là một hình ảnh sáng tạo độc đáo của tác giả, nó mang theo những nỗi niềm của thi sĩ. Nếu mọi vật đang trong thế chia lìa, li tán thì chỉ có trăng là đi ngược lại với tất cả để trở về với thi sĩ. Tâm hồn nhà thơ đang rợn ngợp trong nỗi cô đơn, tưởng như mình bị bỏ rơi bên bờ quên lãng. Trong khoảnh khắc ấy thi sĩ chỉ còn biết mong đợi một hình ảnh duy nhất là trăng. Câu cuối cùng là câu hỏi ẩn chứa biết bao nỗi niềm khắc khoải, lo âu bởi quỹ thời gian còn lại rất ngắn ngủi mà trăng thì vẫn quá xa xôi. Tâm trạng trữ tình phấp phỏng, lo âu được thể hiện qua từ “kịp” vừa như mong chờ hi vọng một cái gì đó đang rời xa, biết khi nào trở lại.

Điều đó đã khiến thời gian “tối nay” càng trở nên ngắn ngủi, như một giới hạn trong quỹ thời gian ít ỏi còn lại của thi nhân. Qua hai câu thơ ta thấy được bức tranh thiên nhiên sông nước xứ Huế buồn hiu hắt trong đêm trăng chở nặng nỗi niềm ưu tư của thi nhân. Tất cả bức tranh ấy thể hiện qua một câu hỏi tu từ da diết và khắc khoải. Trăng đã đi vào thơ Hàn Mặc Tử như một nhân vật huyền thoại, một nơi chốn để tâm hồn thi sĩ được phiêu diêu, thoát tục.

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 8

Huế đẹp và thơ. Núi sông diễm lệ. Con gái Huế xinh tươi và đa tình. Nếp sống thanh lịch của miền núi Ngự sông Hương đã trở thành ấn tượng và cảm mến sâu sắc đối với bao người gần xa:

“Đã đôi lần đến với Huế mộng mơTôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt…”

Thơ ca viết về Huế có nhiều bài hay. Tiêu biểu là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), nhà thơ lỗi lạc trong phong trào “Thơ mới”. Bài thơ có ba khổ thơ thất ngôn nói về cảnh sắc và cô gái Vĩ Dạ trong hoài niệm với bao cảm xúc bâng khuâng, man mác, thẫn thờ.

Vĩ Dạ, một làng cổ xinh đẹp nằm bên bờ Hương Giang thuộc cố đô Huế, qua hồn thơ Hàn Mặc Tử mà trở nên gần gũi yêu thương đối với nhiều người trong bảy mươi năm qua. Đây là khổ thơ thứ hai của bài “Đây thôn Vĩ Dạ”:

“Gió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu, hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?”

Khổ thơ thứ nhất nói về cảnh vật thôn Vĩ khi “nắng mai lên”… Ở khổ thơ thứ hai, Hàn Mặc Tử nhớ đến một miền sông nước mênh mang, bao la, một không gian nghệ thuật nhiều thương nhớ và lưu luyến. Có gió, nhưng ” gió theo lối gió”. Cũng có mây, nhưng “mây đường mây”. Mây gió đôi đường, đôi ngả:

“Gió theo lối ,gió/mây đường mây”.

Cách ngắt nhịp 4/3, với hai vế tiểu đối, gợi tả một không gian gió, mây chia xa, như một nghịch cảnh đầy ám ảnh. Chữ “gió” và “mây” được điệp lại hai lần trong mỗi vế tiểu đối đã gợi lên một bầu trời thoáng đãng, mênh mông. Thi nhân đã và đang sống trong cảnh ngộ chia li và xa cách nên mới cảm thấy gió mây đôi ngả đôi đường như tình và lòng người bấy nay. Ngoại cảnh gió mây chính là tâm cảnh Hàn Mặc Tử.

Không có một bóng người xuất hiện trước cảnh gió mây ấy. Mà chỉ có “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Cảnh vật mang theo bao nỗi niềm. Sông Hương lững lờ trôi xuôi êm đềm, trong tâm tưởng thi nhân đã hoá thành “dòng nước buồn thiu”, càng thêm mơ hồ, xa vắng. “Buồn thiu” là buồn héo hon cả gan ruột, một nỗi buồn day dứt triền miên, cứ thấm sâu mãi vào hồn người. Hai tiếng “buồn thiu” là cách nói của bà con xứ Huế. Bờ bãi đôi bờ sông cũng vắng vẻ, chỉ nhìn thấy “hoa bắp lay”. Chữ ” lay” gợi tả hoa bắp đung đưa trong làn gió. Hoa bắp, hoa bình dị của đồng nội cũng mang tình người và hồn người.

Hai câu thơ thất ngôn với bốn thi liệu (gió, mây, dòng nước, hoa bắp) đã hội tụ hồn vía cảnh sắc thôn Vĩ. Hình như đó là cảnh chiều hôm? Hàn Mặc Tử tả ít mà gợi nhiều, tượng trưng mà ấn tượng. Ngoại cảnh thì chia lìa, buồn lặng lẽ biểu hiện một tâm cảnh: thấm thía nỗi buồn xa vắng, cô đơn.

Hai câu thơ tiếp theo gợi nhớ một cảnh sắc thơ mộng, cảnh đêm trăng trên Hương Giang ngày nào. “Dòng nước buồn thiu” đã biến hoá kì diệu thành “sông trăng” thơ mộng:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?”.

Đây là hai câu thơ tuyệt bút của Hàn Mặc Tử được nhiều người ngợi ca, kết tinh rực rỡ bút pháp nghệ thuật tài hoa lãng mạn. Một vần lưng tài tình. Chữ “đó” cuối câu 3 bắt vần với chữ “có” đầu câu 4, âm điệu vần thơ cất lên như một tiếng khẽ hỏi thầm “có chở trăng về kịp tối nay?”. “Thuyền ai” phiếm chỉ gợi lên bao ngỡ ngàng bâng khuâng, tưởng như quen mà lạ, gần đó mà xa xôi. Con thuyền mồ côi nằm trên bến đợi “sông trăng” là một nét vẽ thơ mộng và độc đáo. Đã có “Thuyền ai đậu bến Cô Tô” hiện lên trong ánh trăng tà và tiếng quạ kêu sương trong thơ Trương Kế đời Đường. Đã có “Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng” trong “Xuân giang hoa nguyệt dạ” của Trương Nhược Hư, 1300 năm về trước. Lại có cảnh “Gió trăng chứa một thuyền đầy” (Nguyễn Công Trứ). Còn có “Trăng sông Trà như tấm gương soi dòng nước bạc” (Cao Bá Quát) Qua đó, ta thấy hình tượng “sông trăng” là mới mẻ, sáng tạo. Cả hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, câu thơ nào cũng có trăng. Ánh trăng tỏa sáng dòng sông, con thuyền và bến đò. Con thuyền không chở người (vì người xa cách chia li) mà chỉ “chở trăng về”. Phải “về kịp tối nay” vì đã cách xa và mong đợi sau nhiều năm tháng. Con thuyền tình của ước vọng nhưng đã thành vô vọng! Bến sông trăng trở nên vắng lặng vì “thuyền ai” chỉ là con thuyền mồ côi.

Sau cảnh gió, mây, là con thuyền, bến đợi và sông trăng, cảnh đẹp một cách mộng ảo. Cả ba hình ảnh ấy đều biểu hiện một nỗi niềm, một tâm trạng cô đơn, thương nhớ đôi với cảnh và người nơi thôn Vĩ. Như ta đã biết, thời trai trẻ, Hàn Mặc Tử đã từng học ở Huế từng có một mối tình đơn phương với một thiếu nữ thôn Vĩ, mang tên một loài hoa. Với chàng thi sĩ tài hoa, đa tình và bất hạnh, đang sống trong cô đơn và bệnh tật, nhớ Vĩ Dạ là nhớ cảnh cũ người xưa. Cảnh “gió theo lối gió, mây đường mây”, cảnh “thuyền ai đậu bến sông trăng đó” là cảnh đẹp mà buồn. Buồn vì chia lìa, xa vắng, lẻ loi và vô vọng.

Khổ thơ trên đây, mỗi câu, mỗi chữ, mỗi vần thơ đều thấm đẫm tình thương nhớ và một nỗi “buồn thiu” lẻ loi, vần thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Thơ Hàn Mặc Tử, đúng là thơ trữ tình hướng nội “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 9

Cuộc sống đối với bạn có thể là chuỗi ngày nhàm chán bởi sự lặp đi lặp lại những tháng ngày mông lung vô vọng; nhưng đối với một ai đó, nó lại đáng quý và tươi đẹp biết bao nhiêu. Đặc biệt là với những người chỉ còn một khoảng thời gian ngắn để gắn bó với cuộc đời này, thì cuộc sống lại càng trở nên quý giá và xa vời hơn bao giờ hết. Trong “Đây thôn Vĩ Dạ”, đặc biệt là khổ 2 của bài thơ, bạn sẽ cảm nhận một cách rõ nét khát vọng sống mãnh liệt cùng nỗi niềm tiếc nuối khi không thể tiếp tục nếm trải vị ngọt đắng cuộc đời của Hàn Mặc Tử. Từ đó, hãy tự hỏi rằng liệu bạn có đang quá lãng phí thời gian – thứ mà đối với người khác chỉ là mộng tưởng?

Nếu như khổ thơ thứ nhất cho ta cảm nhận đẹp nhất về sắc màu của thiên nhiên, của cuộc sống và tâm hồn của người thi sĩ, thì khổ thơ thứ hai sẽ là những nỗi niềm rất buồn, rất bi thương hòa vào cảnh sông nước đêm trăng:

“Gió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”.

Dòng sông xứ Huế mộng mơ được xem như là linh hồn của cảnh, linh hồn của người. Tác giả đã miêu tả cảnh vật một cách rất nhẹ nhàng, rất êm ả như chính cái cách Huế vận động vô cùng chậm rãi. Gió khẽ lay, mây nhè nhẹ bay cùng những hàng hoa bắp đung đưa rất êm ả, nhẹ nhàng. Từ đó, người đọc như được đứng trước khung cảnh thanh bình lại nhuốm màu buồn của xứ Huế.

Cảnh vật sao buồn thế, có cái buồn như len lỏi, như sâu lắng, như bao trùm cả không gian mênh mông vậy? Câu thơ cứ thế như dài ra, khiến cho nỗi buồn cũng dằng dặc bao phủ mọi vật. Trong cái buồn đó, dòng sông cũng chẳng thể tránh mang tâm trạng chung khi được nhân hóa “buồn thiu”. Câu thơ được tác giả tách thành nhịp 4/3, chia “gió” với “mây” thành hai vật thể riêng biệt.

Từ “gió” và “mây” được sử dụng phép điệp ở hai vế dường như tạo nên một thế giới khép kín. Hai sự vật vốn dĩ luôn gắn liền với nhau, nay lại như chẳng hề quen biết mà tách biệt, chia lìa theo hướng riêng. Gió đóng khung trong gió, còn mây cứ mặc mà khép kín trong mây. Chính việc nhìn có vẻ rất phi lý này đã góp phần thể hiện tâm trạng bi thương, buồn đau của tác giả. Liệu cảnh vật vốn dĩ mang màu buồn như thế, hay tâm hồn thi nhân ảm đạm đến mức chẳng thể nhìn ra cảnh sắc tươi vui? Liệu mây và gió tách biệt như thế, hay việc phải chia ly và sống trong cảnh đời đầy nghịch lý khiến tác giả chẳng thể “tác thành” cho cả “gió” và “mây”?

Từ “lay” cũng như mang một nỗi buồn rất nhẹ. Đó phải chăng là sự xâm chiếm của nỗi buồn mây nước vào hồn hoa bắp bên sông. Cảnh sông Hương xứ Huế hiện lên sao trông thật buồn, gió mây đôi ngả, hoa bắp lay nhẹ, hoang vắng lại rợn ngợp như ngập tràn nỗi buồn thê lương. Từ đó, một nỗi buồn nặng trĩu như đè lấy cõi lòng thi nhân, nỗi buồn của sự cô đơn, nỗi buồn của sự mặc cảm và tiếc nuối, là nỗi buồn mang đậm chất ca dao thổi vào hồn muôn thuở của con người.

Trước nỗi buồn ngày một nặng trĩu ấy, tác giả như dần nhận ra sự lo âu, phấp phỏng đang dần chiếm lấy cõi lòng mình:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay”

Trong tâm trạng bi thương ấy, thi nhân bỗng bật lên những nỗi niềm ước ao, hy vọng. Đó phải chăng là một sự níu giữ, bám víu cuối cùng của số phận bạc bẽo? Ước mơ của người thi sĩ dường như đã gắn với trăng, với thuyền như một người bạn tri âm duy nhất đem lại nguồn sống cứu vớt chính mình. Thuyền trăng ấy mang một vẻ đẹp mà tác giả luôn mơ tưởng, dẫu cho nó thật hư ảo và khó phân định. Có thể hiểu “sông trăng” chính là hình ảnh dòng nước ngập tràn ánh trăng, thực thực ảo ảo, đẹp đến nao lòng, và “thuyền trăng” là một con thuyền vận chuyển ánh trăng về với tâm hồn thi nhân.

Trong thơ của Hàn Mặc Tử có cả một miền trăng là nơi chất chứa bao tâm sự, giải tỏa những nỗi đau mà tác giả muốn quên lãng. Từ “thuyền ai” sử dụng danh từ phiếm chỉ “ai” dường như khiến ý thơ trở nên thật mâu thuẫn. Sự mâu thuẫn và phi lý trong ý thơ xét về mặt hiện thực lại giúp người ta lý giải được tâm trạng của chủ thể trữ tình.

Trăng lúc có lúc không, trăng mong manh, xa vời lại mờ ảo, cũng như người tri kỷ mờ ảo chẳng thể nắm bắt khiến cho người ta thật sự lo âu, phấp phỏng. Thi nhân chờ trăng hay chờ tri âm, chờ trăng hay chờ sự đồng điệu, chờ trăng hay chờ sự chia sẻ, chờ trăng hay chính là sự khát khao được giao cảm với đời? Tâm trạng lo âu của tác giả như được đẩy lên cao qua từ “kịp”.

Đó là sự lo âu đan xen với đợi chờ cùng nỗi niềm khao khát. Với một người bình thường, có lẽ nếu không chờ được đêm nay thì còn rất nhiều đêm khác, nhưng đối với Hàn Mặc Tử, rất có thể tối nay sẽ là tối cuối cùng thi sĩ còn cơ hội chờ đợi. Bởi vì quỹ thời gian của ông đang bị vơi dần đi, cuộc chia ly vĩnh viễn có thể đến bất kỳ lúc nào. Nếu như không về kịp tối nay, liệu có còn tối mai, liệu có được cơ hội gặp được tri âm để bầu bạn lần cuối?

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 10

Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Ông đã để lại cho kho tàng thơ ca Việt Nam nhiều tác phẩm hay được chú ý như Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín, Nắng vàng, Trên cầu Tràng tiền,…. Trong đó Đây thôn Vĩ Dạ được đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất của Hàn Mặc Tử thể hiện rõ nét tính cách thơ của ông.

Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ về tình yêu và khát khao cuộc sống. Nếu mở đầu bài thơ, người ta cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn người thi sĩ. Thì đến khổ thơ thứ hai, ta cảm nhận được sự hoài niệm, cùng tâm trạng lo âu của người thi sĩ. Đây là một trong những khổ thơ thể hiện chân thực nhất tâm lý tình cảm của người thi sĩ.

Khổ thơ thứ 2 Đây thôn Vĩ Dạ bao gồm 4 câu thơ thể hiện tâm tư, tình cảm của người thi sĩ – của người khách khi nhớ về quê hương. Ngay đầu khổ 2, một bức tranh sông nước đêm trăng được tác giả mở ra rõ nét:

Gió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Ở đây ta thấy được sự tài tình của Hàn Mặc Tử. Chỉ bằng vài nét chấm phá thôi nhưng có thể gợi lên cả linh hồn của xứ Huế mộng mơ giữa đêm trăng thơ mộng. Đó là một xứ Huế yên bình, huyền ảo với mây trời êm dịu. Dòng sông Hương trong lời thơ của Hàn Mặc Tử hiện lên thật nhẹ nhàng nhưng cũng rất mênh mông thể hiện được linh hồn của xứ Huế mộng mơ. Đó là cảnh vật: gió khẽ lay, mây khẽ bay,… Ở đây, mọi cảnh vật đều chuyển động nhẹ nhàng, êm ả – là một điều gì đó rất riêng của Huế. Giống như Hoàng Phủ Ngọc Tường từng nói “dòng nước sông Hương cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Sông Hương chảy chậm, thực chậm, đó là điệu slow tình cảm mà dòng sông Hương dành cho xứ Huế”.

Nhưng cảnh vật ấy trong mắt người thi sĩ cũng đượm buồn, chẳng có sự kết nối. Mây và gió vốn là những sự vật gắn liền với nhau, hòa quyện vào nhau. Vậy mà ở đây “Gió theo lối gió, mây đường mây”, như chẳng có chút vương vấn nào.. Cùng với dòng nước “buồn thiu” càng làm nổi bật lên nỗi buồn sâu lắng ấy. Và trong không gian ấy, hoa bắp chỉ khẽ “lay”. Động từ “lay” trong hoàn cảnh này nghe sao hiu hắt, nó giống như một sự níu giữ vu vơ. Hình ảnh “hoa bắp lay” như hiện thân cho thân phận cô độc, lạc loài, bị cuộc đời lãng quên của thi sĩ. Dường như nỗi buồn nhuốm cả vào không gian, cảnh vật, làm tâm trạng con người cũng chẳng thể nào vui được. Câu thơ nghe sao cứ dài đằng đẵng, làm cho nỗi buồn chẳng thể nguôi ngoai.

Đêm trăng đã biến dòng Hương giang trở nên huyền ảo hơn bao giờ hết. Cùng với bầu trời trong vắt, ánh trăng sáng vằng vặc tạo thành những dải ánh vàng trên sống. Nó làm cho dòng sông bỗng hóa thành “dòng sông trăng”. Ở đây, tác giả đã dùng biện pháp nhân hóa đối với dòng sông. Dòng sông không còn đơn thuần là một cảnh vật tĩnh nữa, qua lời thơ của Hàn Mặc Tử nó đã trở thành sinh thể có tâm hồn mang nỗi niềm của con người. Dường như nó chính là đại diện cho người thi sĩ.

Cảnh vật càng nhuốm màu buồn hơn khi các sự vật dường như chẳng có liên quan gì. “Mây” và “gió” đã trở thành xa lạ. Dường như khung cảnh lúc này gió và mây đã ở hai thế giới khác nhau, chẳng còn vướng bận với nhau nữa. Câu thơ mang đến hiện thực phũ phàng và cũng thể hiện tâm trạng ngổn ngang của người thi sĩ. Đó là thi sĩ đang sống trong cảnh chia ly với cảnh đời đầy nghịch lý nên gió và mây cứ như hai đường thẳng song song, chẳng hòa nhập gì. Chính lúc ấy, chỉ một từ “láy” nhẹ nhàng của gió thôi cũng thổi bùng lên nỗi buồn muôn thuở của con người.

Tiếp theo đó, tâm trạng lo âu, thấp thỏm của người thi sĩ được thể hiện rõ nét. Dường như người thi sĩ đã hy vọng quá nhiều, để rồi giờ đây nỗi thất vọng được bộc lộ rõ ngay trên dòng Hương giang này. Đó không đơn thuần là nỗi thất vọng, đó còn là nỗi sợ, nỗi băn khoăn về sự chia ly cách biệt.

Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay

Một cảnh vật lung linh, huyền ảo với ánh trăng ngập lối được mở ra. Hình ảnh ấy mang đến ý nghĩa vừa thực vừa ảo như tâm trạng của người thi sĩ vậy. Ở đây, tác giả dùng “sông trăng” để miêu tả dòng sông ngập tràn ánh trăng mang đến sự kỳ vĩ. Còn chiếc thuyền đậu trên dòng sông trăng ấy giống như chính người thi sĩ. Ánh trăng dường như đã ngập tràn tất cả không gian và thời gian, gợi lên một cảm giác mơ hồ.

Ở đây tác giả sử dụng “thuyền ai” vừa như câu hỏi, vừa như câu cảm thán. “Thuyền ai” vô cùng mơ hồ nhưng ta biết đó là khát vọng của người thi sĩ, mong mỏi về người xưa, chốn cũ. Trong khi đó “thuyền ai” lại gợi ra một hình ảnh đơn độc. Hình ảnh ấy chẳng rõ ràng mà mờ ảo, mong manh giống như ánh trăng lúc có lúc không. Đó cũng là điều thể hiện niềm lo âu, phấp phỏng của người thi sĩ.

Có lẽ, Hàn Mặc Tử muốn dùng dòng sông trăng để mở ra một thế giới tri âm chất chứa tâm sự. Đó cũng là thế giới để tác giả giải tỏa những niềm đau, sự lo lắng. Trong giọng điệu của câu thơ ta thấy được nỗi niềm khát khao, khắc khoải đến cháy bỏng của Hàn Mặc Tử. Nó được thể hiện rõ nét qua từ “kịp” mà tác giả sử dụng trong câu. “Kịp” có nghĩa là chưa chắc chắn nên người thi sĩ mới lo âu sống trong tâm trạng chờ đợi, khát khao. Cái sự “kịp tối nay” mà tác giả đưa ra cũng như một lời khẩn cầu tha thiết, bởi chỉ qua ngày mai thôi, mọi thứ sẽ chỉ còn là dấu chấm hết. Qua đó ta cũng thấy được dường như cuộc sống của người thi sĩ đang vơi cạn từng ngày. Sự chia ly có thể đến bất cứ lúc nào. Thế nên nếu thuyền không chở được “trăng” về tối nay, người thi sĩ chẳng tìm được sự tri âm sẽ phải ra đi vĩnh viễn trong buồn đau, ân hận.

Với bút pháp tả cảnh gợi tình đầy tinh tế, hình ảnh chắt lọc, Hàn Mặc Tử đã mang đến cho người đọc một Đây thôn Vĩ Dạ gần gũi, thân thuộc. Đó là miền quê hương đất nước, một nơi gắn bó với tuổi thơ. Bài thơ còn là tiếng lòng của một trái tim yêu người, yêu đời mãnh liệt. Nhưng niềm tin yêu ấy lại sớm chìm trong vô vọng. Và khổ 2 trong Đây thôn Vĩ Dạ chính là sự chứng minh cho sự vô vọng ấy. Khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ là sự hoài niệm của tác giả về nơi từng gắn bó với mình – dòng sông Hương và tâm trạng lo âu, phấp phỏng khi đợi chờ tri âm, tri kỷ. Đây có lẽ là khổ thơ hay thể hiện tâm trạng của tác giả trong chặng đường chờ đợi sự tri âm, sẻ chia.

Mẫu đơn từ con (Cập nhật mới nhất 2022)

1. Pháp luật quy định như thế nào về đơn từ con ?

Trước hết, Hiến pháp năm 2013 quy định:

Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái thành những công dân tốt…Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”.

Bên cạnh đó, điều 69 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ với con:

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

  1. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  2. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
  3. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Trong những quy định của pháp luật, cho thấy không có quy định nào cho phép cha mẹ có quyền từ con của mình. Bởi lẽ, quan hệ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ là mối quan hệ ruột thịt, thiêng liêng và cao đẹp. Cho dù trong trường hợp cha mẹ không muốn nhận con nữa nhưng cũng không thể chối bỏ được quan hệ ruột thịt giữa mình và con.

Thực tế, pháp luật Việt Nam mới chỉ quy định về việc cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu tòa ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi nếu con nuôi có hành vi nghiêm trọng xâm phạm thân thể, nhân phẩm hoặc có hành vi khác làm mất tình cảm của cha mẹ nuôi…

2. Đơn từ con được cơ quan có thẩm quyền nào thụ lý giải quyết ?

Theo các quy định của pháp luật thì không có quy định nào ghi cha mẹ có thể từ con, bởi vậy nếu cha mẹ có viết đơn từ con thì cũng không có cơ quan nào thụ lý giải quyết vấn đề này.

Tuy nhiên theo tác giả trên thực tế, con cái quá “bất hiếu” cha mẹ có thể viết giấy từ con nhằm thỏa thuận giữa cha mẹ và con cái mà không có sự can thiệp của pháp luật. Nhưng khi xảy ra một số vấn đề liên quan pháp luật sẽ không quan tâm đến điều ấy. Vì tôn trọng quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con nên pháp luật không cho phép và không quy định về vấn đề cha mẹ từ con của mình.

Trên đây, Công ty Luật ACC – Đồng hành pháp lý cùng bạn đã cung cấp một số thông tin về mẫu đơn từ con. Đối với sự tin cậy của khách hàng, Luật ACC sẽ luôn cố gắng hơn nữa để khách hàng có được sự hài lòng nhất. Nếu có thắc mắc gì về mẫu đơn từ con hay những vấn đề khác quý khách hàng có thể liên hệ với chúng tôi. Công ty Luật ACC luôn sẵn sàng hỗ trợ quý khách hàng! Email: info@TTTD.VN Hotline: 1900 3330 Zalo: 084 696 7979

Sao Thái Dương năm 2021 chiếu mệnh tuổi nào, cách hóa giải hạn sao?

Những tuổi nào gặp hạn sao Thái Dương chiếu mệnh trong năm Tân Sửu 2021? Cách hóa giải hạn sao Thái Dương năm 2021 nào là đúng và hiệu quả nhất? Mời bạn tìm hiểu bài viết dưới đây.

Sao Thái Dương là gì?

Sao Thái Dương là gì, tốt hay xấu? Sao Thái Dương chính là tinh quân tốt nhất trong số 9 Cửu diệu chiếu mệnh hàng năm, chủ về An khang thịnh vượng. Người được sao này chiếu thì tài lộc, tiền tài, của cải chất như núi, đi làm ăn xa được nhiều may mắn, làm ăn phát đạt, nhất là với nam giới vào tháng 6 và tháng 10 âm lịch.

Sao Thái Dương là một Phúc tinh tốt với cả nam và nữ mệnh khi được sao này chiếu mạng. Sao này mang lại sự tốt lành, an khang thịnh vượng, công danh rộng mở, phát tài phát lộc, giúp cho nam mệnh có khả năng thăng quan tiến chức, vạn sự đều may.

Nữ mệnh được sao Thái Dương chiếu mạng cũng khá tốt, được người bạn đời gánh vác, lo toan mọi việc, ngày càng khỏe mạnh, duyên dáng. Có thể gặp tai ách vào tháng 6 và 10 âm lịch nhưng vì đây là phúc tinh nên cũng không đáng quan ngại.

Người già cả trên 60, 70 gặp sao hạn này chiếu mệnh đau ốm nhẹ cũng khó qua khỏi. Đàn ông đi làm ăn đắc sáng suốt, đi xa có tài lợi đắc an khang.

Sao Thái Dương chiếu mạng nam nữ tuổi nào?

Để biết được sao Thái Dương chiếu mạng đối với nam và nữ thì người ta xác định dựa vào tuổi âm lịch và giới tính, tức là tính theo tuổi bào thai hay trong dân gian vẫn gọi là “tuổi mụ”. Theo đó, sao Thái Dương sẽ chiếu mạng vào các năm tuổi sau:

– Nam mạng gặp sao Thái Dương vào những năm: 5, 14, 23, 32, 41, 50, 59, 68, 77 tuổi.

– Nữ mạng gặp sao Thái Dương vào những năm: 7, 16, 25, 34, 43, 52, 61, 70, 79 tuổi.

Cũng tương tự như các sao khác trong hệ thống Cửu diệu, cứ sau 9 năm sao Thái Dương sẽ quay trở lại đối với một tuổi. Mời bạn tham khảo: Bảng xem sao chiếu mệnh và vận hạn năm 2021 của 12 con giáp

Những tuổi hạn sao Thái Dương chiếu mệnh năm Tân Sửu 2021

Sang năm Tân Sửu 2021 những người sinh năm say đây sẽ gặp sao Thái Dương chiếu mạng:

Nam mạng: 2008 (Mậu Tý), 1999 (Kỷ Mão), 1990 (Canh Ngọ), 1981 (Tân Dậu), 1972 (Nhâm Tý), 1963 (Quý Mão), 1954 (Giáp Ngọ), 1945 (Ất Dậu).

Nữ mạng: 2006 (Bính Tuất), 1997 (Đinh Sửu), 1988 (Mậu Thìn), 1979 (Kỷ Mùi), 1970 (Canh Tuất), 1961 (Tân Sửu), 1952 (Nhâm Thìn).

Sao Thái Dương thuộc hành gì, hợp kỵ màu nào nhất, kỵ tháng mấy?

Thái Dương chính là Mặt trời, thuộc hành Hỏa nên chiếu theo ngũ hành có quan hệ tương sinh với Mộc, bình hòa với Hỏa, tương khắc với Thủy, Kim, sinh xuất với Thổ. Do đó:

Sao Thái Dương kỵ các màu thuộc hành Thủy là màu đen, xanh da trời… và màu thuộc hành Kim là màu trắng, vàng ánh kim, bạc…

Sao Thái Dương hợp với các màu thuộc hành Hỏa là màu đỏ, hồng, tím… và màu thuộc hành Mộc là màu xanh lá cây…

Nam giới được sao này chiếu thì tài lộc, tiền tài, của cải chất như núi, đi làm ăn xa được nhiều may mắn, làm ăn phát đạt, nhất là vào tháng 6 và tháng 10 âm lịch.

Nữ mệnh gặp sao này kỵ nhất là vào tháng 6 và tháng 10 âm lịch có thể gặp tai ách, xui rủi nhưng vì đây là phúc tinh nên không đáng lo ngại.

Các hạn sao Thái Dương năm 2021 thường gặp

Đường công danh, sự nghiệp: Là một năm thăng quan tiến chức, công việc được thuận buồm xuôi gió được người khác nâng đỡ rất nhiều.

Tiền tài: Tuổi có sao Thái Dương chiếu mệnh trong năm nay tiền tài, của cải được rủng rỉnh cả năm, không lo thiếu thốn do việc làm ăn đại phát.

Vấn đề sức khỏe: Dù sao Thái Dương là tốt nhưng chủ về phú quý, người có sao Thái Dương chiếu mệnh năm hay đau ốm nhưng chỉ ở mức độ nhẹ không nặng lắm.

Sao Thái Dương là sao gặp nam giới sẽ tốt hơn nữ giới. Thông thường mỗi năm gặp sao hạn trong cửu diệu tinh thường sẽ làm lễ giải hạn hoặc lễ nghênh sao. Với sao Thái Dương quý bạn làm lễ nghênh sao để mong đón được nhiều tài lộc, may mắn hơn nữa.

Đặc tính sao Thái Dương được thể hiện qua đoạn thơ sau đây:

“Thái dương chiếu mệnh năm nay Tháng mười tháng sáu có mà tiền vơ Cầu trời lạy phật na mô Sao tốt ở phải cây khô ra chồi Sao tốt vận xấu than ôi Thái dương thái bạch đi đôi khác gì Hạn nặng phải tránh kẻo nguy Chú ý sao tốt mắc thì hoạ lây Thái dương thuộc mộc la cây Mùa thu kị lăm khắc ngay tới minh Ăn ở ngay thẳng thật tình Làm ăn tấn tới quang minh phát tài”

Cách cúng giải hạn sao Thái Dương năm 2021

Đầu năm và hàng tháng người xưa thường làm lễ dâng sao giải hạn tại chùa hoặc tại nhà, nghi lễ tiến hành như sau:

Lễ cúng sao giải hạn Thái Dương gồm có:

Bài vị màu vàng Mũ vàng Hương hoa Phẩm oản Tiền vàng và 36 đồng tiền Hướng về phương Đông làm lễ.

Gặp sao này vào ngày 27 dùng Hỏa đón như đeo trang sức đá quý màu đỏ, tím là thạch anh tím, hồng ngọc, ngọc vân hồng…

Vào tối 27 hàng tháng, đặt bàn thờ về hướng chính Đông. Trên bàn thờ đặt 12 ngọn đèn (nến) bố trí theo các vị trí hướng sao hiện. Thời gian cúng là từ 21 đến 23 giờ.

Bài vị: Dùng sớ viết tên trên giấy màu đỏ: Nhật Cung Thái Dương Tiên Tử Tinh Quân Vị Tiền.

Bài văn khấn cúng nghinh sao Thái Dương chuẩn theo văn khấn cổ truyền

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Nam mô Hiệu Thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng đế.

– Con kính lạy Đức Trung Thiện tinh chúa Bắc cực Tử Vi Tràng Sinh Đại đế.

– Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân.

– Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh quân.

– Con kính lạy Đức Nhật cung Thái Dương Thiên tử Tinh quân.

– Con kính lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân quân.

Tín chủ (chúng) con là:… … … … … ….

Hôm nay là ngày… … tháng… … …năm….., tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, thiên lập linh án tại (địa chỉ)… … … … … …để làm lễ nghinh sao giải hạn sao Thái Dương chiếu mệnh.

Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc,lộc, thọ cho con gặp mọi sự lành, tránh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Lễ xong chờ hết tuần hương thì hoá sớ, bài vị và tiền vàng rồi vẩy rượu lên. Sau đó lấy muối gạo rắc bốn phương tám hướng.

Ngoài ra, có thể áp dụng hóa giải Sao Thái Dương trong năm 2021 bằng phương pháp phong thủy.

Với phụ nữ nếu không muốn dâng sao giải hạn phiền phức, tốn kém, mệnh chủ nên dựa vào đặc tính hành Hỏa của sao Thái Dương để hóa giải vận hạn. Theo phong thủy, hành Thổ có thể khắc chế được hành Hỏa, nữ mệnh nên dùng những đồ trang sức phong thủy làm bằng đá quý màu vàng hay nâu như thạch anh vàng, thạch anh tóc vàng, hổ phách… Cũng có thể dùng nhiều đồ dùng hay mặc trang phục mang màu sắc của hành Thổ để hạn chế bớt xui xẻo.

Ngược lại, nam mệnh muốn vận trình được suôn sẻ, may mắn hơn nữa thì lại phải tận dụng sức mạnh của hành Hỏa, dùng trang phục, đồ vật màu hồng, đỏ, tím của hành Hỏa để tăng cường cát khí của sao chủ. Nếu muốn dùng vật phẩm phong thủy thì nên ưu tiên những đồ làm bằng đá thạch anh tím, thạch anh hồng, mã não đỏ, ruby…

Cũng có thể áp dụng hành Mộc để tương sinh cho hành Hỏa, dùng những đồ dùng hay vật phẩm màu xanh lá. Về đá quý thì có thể dùng ngọc lục bảo, phỉ thúy, đá khổng tước…

Theo TTTD.VN!

Mẫu nghị quyết đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2020-2022

ĐẠI HỘI ĐẢNG VIÊNCHI BỘ THCS …………….Nhiệm kỳ 2020-2022

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

…………, ngày …. tháng …. năm 20….

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG VIÊN CHI BỘ

NHIỆM KỲ 2020 – 2022

Đại hội đảng viên Chi bộ trường THCS ………….. nhiệm kỳ 2020-2022 tiến hành ngày …/…./20…., đại hội có mặt …. /…. đảng viên được triệu tập.

Qua một buổi làm việc các đại biểu tham dự đại Hội đã thảo luận đóng góp nội dung trong báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2017-2020, dự thảo phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2020-2022 và đóng góp bản báo cáo tự kiểm điểm trong ban chi ủy nhiệm kỳ 2015-2017.

Đại hội tiến hành bầu Ban chi ủy nhiệm kỳ 2020-2022 gồm 03 đồng chí và bầu bí thư, phó bí thư chi bộ.

Để thống nhất cao và tiến hành tổ chức thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu nhiệm vụ trong nhiệm kỳ tới đã được thảo luận tại Đại hội. Đại hội đảng viên Chi bộ ấp trường THCS …………… nhiệm kỳ 2020-2022 thống nhất:

QUYẾT NGHỊ

1. Nhất trí thông qua báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết của chi bộ nhiệm kỳ 2017-2020 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong nhiệm kỳ 2010-2022 với những nội dung chủ yếu sau:

1.1 Về đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng viên chi bộ trường THCS ………….. nhiệm kỳ 2017-2020.

Trong nhiệm kỳ 2017-2020 về cơ bản chi bộ đã hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo mà nghị quyết đại hội đã đề ra, chất lượng dạy và học được duy trì và ổn định, hàng năm có sự tăng trưởng theo hướng tích cực, tỉ lệ học sinh giỏi tăng. Các tổ chức đoàn thể duy trì hoạt động có nề nếp đảm bảo chất lượng thúc đẩy phong trào thi đua trong nhà trường. Mỗi đảng viên đã nêu cao tinh thần tiên phong gương mẫu trong mọi hoạt động

Vai trò lãnh đạo của chi bộ đảng và của đảng viên được nâng lên. Công tác tự phê bình và phê bình được thực hiện ngày càng đi vào chiều sâu, vai trò gương mẫu của cán bộ đảng viên được thể hiện khá tốt, tạo được sự thống nhất về ý chí và hành động của toàn chi bộ.

Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) và Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” được quán triệt và triển khai thực hiện sâu rộng trong hệ thống chính trị của nhà trường, góp phần thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước của đơn vị đi vào chiều sâu, có chất lượng.

1.2 Về mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu trong nhiệm kỳ 2020-2022:

Đại hội nhất trí các mục tiêu và những giải pháp chủ yếu cần tập trung thực hiện trong nhiệm kỳ:

1.2.1 Mục tiêu – nhiệm vụ cần đạt trong nhiệm kỳ:

* Về tư tưởng chính trị – đạo đức tác phong:

Làm tốt công tác giáo dục chính trị cho cán bộ đảng viên, giáo viên, nhân viên và học sinh để mọi người nhận thức đúng và đầy đủ về đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; giáo dục tình yêu quê hương đất nước, trách nhiệm của mỗi cá nhân.

Tiếp tục đẩy mạnh Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) và Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

– 100% đảng viên, giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng; giữ gìn lối sống trong sạch lành mạnh.

* Về chuyên môn nghiệp vụ:

Thực hiện tốt các mục tiêu đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học.

– 100% đảng viên xếp loại chuyên môn khá, giỏi.

– Giáo viên dạy giỏi các cấp: cơ sở 20, thành phố 5, tỉnh 1.

* Chất lượng giáo dục:

Duy trì nề nếp và sỉ số học sinh, tăng cường công tác giáo dục đạo đức học sinh, đánh giá xếp loại học sinh một cách khách quan.

Phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện:

+ Hạnh kiểm: Loại tốt trên ……%, loại khá dưới …..%; trung bình: <…..%

+ Học lực: Giỏi: …..%, Khá: …..%, TB: …..%, Yếu: ….% ( trong đó tỷ lệ lưu ban dưới .%;… bỏ học dưới ….%)

+Tỉ lệ tuyển vào lớp 6: 100% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học +Tốt nghiệp trung học cơ sở: 100%; tuyển vào lớp 10: 75% đến 80%.

+ Học sinh giỏi cấp Thành phố: ….. em, học sinh giỏi cấp Tỉnh: ….. em.

+ Tốt nghiệp THCS: 100%.

* Về các hoạt động đoàn thể

– Củng cố và duy trì có nề nếp các hoạt động đoàn thể. Nâng cao vai trò nhiệm vụ các hoạt động đoàn thể trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ của chi bộ và nhà trường.

– Phấn đấu xây dựng các đoàn thể vững mạnh xuất sắc.

* Về công tác xây dựng Đảng:

-Tiếp tục nâng cao sức chiến đấu của chi bộ Đảng trong mọi lĩnh vực hoạt động.

– ……../……(……….%) đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

– ……../……(……….%) đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

– Không có đảng viên vi phạm điều lệ Đảng, qui định những điều đảng viên không được làm.

– Giới thiệu và bồi dưỡng đối tượng đảng 1-2 quần chúng / nhiệm kỳ.

– Chi bộ giữ danh hiệu trong sạch vững mạnh.

1.2.2 Các giải pháp thực hiện:

*Chuyên môn nghiệp vụ:

– Lãnh đạo nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể của nhà trường để mỗi cán bộ giáo viên công nhân viên trong nhà trường thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình, phát quy năng lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

– Tiếp tục thực hiện giao chỉ tiêu kế hoạch cho từng CBGV làm cơ sở đánh giá hiệu quả công tác.

– Tăng cường lãnh đạo hoạt động tổ chuyên môn, đổi mới nội dung sinh hoạt tổ với mục tiêu nâng cao nâng cao năng lực giảng dạy của mỗi giáo viên.

– Nâng cao chất lượng hoạt động Ban đại diện CMHS, làm tốt công tác xã hội hóa tạo nguồn lực phát triển giáo dục tại địa phương.

* Công tác đoàn thể:

– Xây dựng và thực hiện quy chế làm việc, mối quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền và đoàn thể, phát huy hiệu quả hoạt động các tổ chức, làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục để mỗi đoàn viên gắn bó với tổ chức đoàn thể.

– Các tổ chức đoàn thể cần chủ động phát động các phong trào thi đua tạo không khí sôi nổi trong thực hiện nhiệm vụ.

– Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa , văn nghệ, TDTT theo quy ước xây dựng cơ quan văn hóa.

* Công tác xây dựng Đảng:

– Thực hiện tốt điều lệ Đảng, chấp hành những quy định về những điều đảng viên không được làm; thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

– Phát huy tốt vai trò hạt nhân lãnh đạo, xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh.

– Tăng cường ý thức tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Đại hội đảng viên chi bộ THCS Nhơn Thạnh nhiệm kỳ 2020-2022 kêu gọi toàn thể đảng viên, cán bộ giáo viên, nhân viên phát huy tinh thần đoàn kết nêu cao trách nhiệm quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2010-2022 đề ra./.

BAN CHI ỦY

Mẫu đơn xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế 2022

Mục lục bài viết

Tùy vào những lý do nhất định mà doanh nghiệp hoặc cá nhân sẽ cần có xác nhận về việc đã hoàn thành đầy đủ thuế theo quy định. Nội dung bài viết sau đây sẽ giải đáp chi tiết hơn về vấn đề xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp và mẫu đơn xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế.

Trường hợp nào doanh nghiệp xin xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế?

Khi thực hiện một số thủ tục doanh nghiệp sẽ cần phải có giấy xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ thuế, cụ thể như:

– Doanh nghiệp cần phải thực hiện hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động

Trong trường hợp doanh nghiệp giải thể việc hoàn thành nghĩa vụ thuế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đối với doanh nghiệp phá sản thì việc hoàn thành nghĩa vụ thuế được thực hiện theo quy định trình tự, thủ tục quy định tại Luật phá sản.

Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động và chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì phần tiền thuế nợ còn lại do chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm nộp theo quy định của Luật doanh nghiệp tùy theo mỗi loại hình doanh nghiệp.

– Doanh nghiệp cần phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp

Trường hợp doanh nghiệp bị chia, tách hoặc hợp nhất, sáp nhập thì phải có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ thuế trước khi thực hiện những thủ tục này.

Việc tổ chức lại loại hình doanh nghiệp sẽ không làm thay đổi thời hạn nộp thuế của doanh nghiệp tổ chức lại. Nếu doanh nghiệp tổ chức lại hoặc các doanh nghiệp thành lập mới không thực hiện nộp thuế đầy đủ theo quy định về thời hạn nộp thuế thì sẽ bị xử phạt theo quy định.

Như vậy nếu muốn thực hiện một trong các thủ tục trên thì doanh nghiệp cần phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định do đó mẫu đơn xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế là vấn đề được nhiều doanh nghiệp quan tâm.

Thủ tục để doanh nghiệp xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế

Để xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế thì doanh nghiệp cần thực hiện theo trình tự như sau:

– Người thực hiện nộp thuế sẽ phải gửi văn bản để nghị cơ quan thuế xác nhận việc đã hoàn thành nghĩa vụ thuế của từng loại thuế hoặc của tất cả các loại thuế; xác nhận số tiền nộp thuế, tiền phạt còn phải nộp tính đến thời điểm đề nghị xác nhận cho Cục thuế quản lý trực tiếp.

– Thời gian là 03 ngày làm việc từ ngày nhận được văn bản đề nghị xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thì cơ quan thuế có trách nhiệm ra văn bản xác nhận về việc đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.

Trong trường hợp cần phải tiến hành kiểm tra đối chiếu lại các thông tin thì cục thuế gửi thông báo cho người nộp thuế được biết lý do chưa xác nhận việc thực hiện đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.

Người nộp thuế có thể nộp hồ sơ trực tiếp tại cục thuế hoặc gửi qua đường bưu chính.

Thành phần hồ sơ xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế gồm văn bản đề nghị xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ thuế trong đó phải nêu rõ các nội dung:

– Thông tin người nộp thuế, mã số thuế của doanh nghiệp, số thuế phát sinh của từng loại thuế bao gồm cả số thuế do người nộp thuế khai trong hồ sơ thuế đã nộp cho cơ quan có thẩm quyền.

– Số tiền nộp phạt hành chính do vi pháp luật thuế;

– Số tiền thuế, tiền phạt đã nộp;

– Số tiền thuế, tiền phạt doanh nghiệp còn nợ nếu có.

Như vậy doanh nghiệp muốn xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế thì cần phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định trên và nộp tại Cục thuế quản lý trực tiếp của doanh nghiệp.

Quy định về mẫu đơn xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế

Hiện nay chưa có mẫu đơn xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế, tuy nhiên trong trường hợp soạn thảo đơn xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế cần có:

– Quốc hiệu tiêu ngữ, ngày tháng năm soạn đơn;

– Tên đơn: ĐƠN XIN XÁC NHẬN HOÀN THÀNH NGHĨA VỤ THUẾ

– Kính gửi: Chi cục thuế……

– Nội dung đơn gồm các thông tin: địa chỉ công ty; tên công ty; mã số thuế, ngày tháng năm cấp mã số thuế, số lần thay đổi ghi cụ thể ngày tháng năm thay đổi; địa chỉ trụ sở chính của công ty;…

Thông tin cụ thể về các loại thuế, thuế phát sinh, thuế đã nộp.

Ví dụ: Để thuận tiện cho việc…….công ty nay công ty làm đơn này kính đề nghị hải quan xác nhận số thuế công ty đã nộp vào ngân sách nhà nước như sau: loại thuế….phát sinh….đã nộp…

Nên công ty đã hoàn thành mọi nghĩa vụ thuế và hiện không còn nợ thuế nhà nước. Để công ty hoàn tất thủ tục theo đúng quy định pháp luật, rất mong chi cục thuế thành phố…..xác nhận cho công ty trong thời gian sớm nhất.

Sau đó đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp sẽ ký tên.

Cần lưu ý: khi ký vào giấy xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế phải là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, trong trường hợp được ủy quyền thì phải có giấy ủy quyền kèm theo; mã số thuế trong đơn phải chính xác và còn hoạt động; nêu cụ thể chi tiết về lý do xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế.

Sau khi hoàn thành việc soạn thảo đơn, đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã ký tên thì sẽ nộp đơn kèm theo hồ sơ như trên đến cục thuế quản lý trực tiếp của doanh nghiệp.

Đơn xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp nộp lên cơ quan thuế quản lý để xác định việc doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật.

Việc nộp đơn và hồ sơ để xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế sẽ không mất phí mà chỉ cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định.

Mẫu đơn xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————————

………, ngày … tháng… năm 20……

Đơn xin được xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế

Kính gửi: Chi cục thuế…………

Địa chỉ: …………

– Tên công ty: ……

– Số giấy chứng nhận đầu tư/Mã số thuế cá nhân/ Số giấy phép đăng ký kinh doanh …… ngày cấp lần đầu ngày…. tháng ….năm …. và thay đổi lần thứ ….ngày …. tháng …. năm ……

– Mã số thuế:…………

– Địa chỉ trụ sở chính: ………..(sau đây gọi tắt là “Công Ty”)

Để thuận tiện cho việc giải thể công ty, nay Công Ty làm đơn này kính đề nghị hải quan xác nhận số thuế Công Ty đã nộp vào ngân sách Nhà nước như sau:

Loại thuế: ……

Phát sinh: ……

Đã nộp: ……

Nên Công ty đã hoàn thành mọi nghĩa vụ thuế và hiện không còn nợ thuế Nhà nước.

Để Công Ty hoàn tất thủ tục theo đúng quy định của pháp luật, rất mong Chi cục thuế thành phố…… xác nhận cho Công ty trong thời gian sớm nhất.

Trân trọng cám ơn và kính chào!

……………., ngày …. tháng …. năm ….

ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP (Giám đốc)

Quý vị có thể tham khảo thêm mẫu xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế với cơ quản hải quan.

Download (DOC, 32KB)

Trên đây là nội dung bài viết của chúng tôi về vấn đề thủ tục, hồ sơ mà doanh nghiệp cần phải thực hiện để xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế và mẫu đơn xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế.

Nồng độ cồn của tất cả các loại bia ở Việt Nam

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại bia, từ bia nội đến bia ngoại nhập. Một trong những yếu tố quan trọng để chọn bia chính là nồng độ cồn của bia. Cùng tìm hiểu nồng độ cồn của các loại bia ở Việt Nam đang rất phổ biến nhé!

Bia là thức uống không thể thiếu trong những bữa tiệc cùng bạn bè, gia đình. Để chọn loại bia phù hợp cho những lần gặp mặt như thế thông thường người dùng sẽ chọn những loại bia từng uống và cảm thấy hợp vị hay dựa vào thương hiệu và quan trọng hơn nữa chính là nồng độ cồn. Bài viết này sẽ gửi đến các bạn tổng hợp nồng độ cồn của các loại bia đang có mặt tại Việt Nam.

Nồng độ cồn của bia là gì?

Độ cồn của bia là số đo chỉ hàm lượng cồn (ethanol) có trong bia, tính theo phần trăm thể tích.

Độ cồn được tính theo số ml ethanol nguyên chất có trong 100 ml dung dịch ở 20 độ C.

Bia tùy loại mà có chứa 1 – 12% cồn, thường ở vào khoảng 5%. Các loại bia ít cồn (hay bia không cồn) thường độ cồn cũng ở mức 0.05 – 1.2%.

Nồng độ cồn của các loại bia phổ biến:

1Bia Sài Gòn

Nồng độ cồn của bia Sài Gòn

Bia Sài Gòn là hãng bia nổi tiếng hàng đầu Việt Nam với thế mạnh là giá thành phải chăng cũng như chất lượng rất tốt nên được giới sinh viên và người lao động yêu thích. Bạn có thể tìm hiểu rõ hơn về Bia Sài Gòn tại.

Bia Sài Gòn có nhiều loại cùng nồng độ cồn khác nhau. Bia Sài Gòn bao gồm Sài Gòn Export (Sài Gòn đỏ), Bia 333, Sài Gòn Lager (Sài Gòn xanh), Sài Gòn Special (Sài Gòn lùn). Mỗi loại bia có nồng độ cồn và hương vị cũng khác nhau.

  • Bia Sài Gòn xanh có nồng độ cồn: 4.3%.
  • Bia Sài Gòn đỏ có nồng độ cồn: 4.9%.
  • Bia Sài Gòn Special có nồng độ cồn: 4.9%.
  • Bia 333 có nồng độ cồn: 5.3%.
  • Cùng là bia Việt, chọn bia 333 hay bia Sài Gòn?
  • Bia Sài Gòn có bị làm giả không?

2Bia Tiger

Nồng độ cồn của bia Tiger

Tiếp đến là một cái tên rất là quen thuộc, bia Tiger. Thương hiệu bia đình đám này đang chiếm thị phần rất cao trong thời gian gần đây. Bước vào các hàng quán, bạn sẽ dễ dàng nhận thấy loại bia này luôn xuất hiện trên bàn ăn.

Dù rất nổi tiếng nhưng cho đến nay bia Tiger cũng chỉ cho ra hai loại phổ biến là Bia Tiger nâu (Tiger xanh) và Bia Tiger bạc.

  • Bia Tiger nâu có nồng độ cồn: 5%.
  • Bia Tiger bạc có nồng độ cồn: 4.6%.

Xem thêm:

  • Tìm hiểu về các loại bia Tiger, giá bán và nồng độ cồn của từng loại
  • Những điều bạn chưa biết về bia Tiger Crystal

3Bia Heineken

Nồng độ cồn của bia Heineken

Bia Heineken được định hình là dòng bia cao cấp nên giá thành của Heineken từ trước đến nay có giá tương đối cao khoảng gần 20.000đ/chai đồng nghia với việc chất lượng bia, mùi vị bia của Heineken luôn được người sành bia đánh giá cực kỳ cao.

Người dùng đánh giá hương vị của Heineken khá là nhẹ, dễ uống, hậu vị không đắng như các dòng bia khác nhưng không có nghĩa nồng độ cồn của Heineken nhẹ. Heineken có hai loại là Heineken xanh và Heineken bạc.

  • Bia Heineken xanh có nồng độ cồn: 5%.
  • Bia Heineken bạc (Heineken Silver) có nồng độ cồn: 4%.
  • Bia Heineken 0.0% độ cồn: Bia không cồn.

Xem thêm các bài viết về bia Heineken:

  • Nên uống bia Tiger hay Heineken?
  • Trên tay Heineken Silver và cảm nhận đầu tiên khi uống thử
  • Giới thiệu về bia Heineken 0.0, lựa chọn mới cho người sành bia

4Strongbow

Nồng độ cồn của bia Strongbow

Strongbow dù bản chất không phải là bia nhưng đây là thức uống được rất nhiều người yêu thích đặc biệt là chị em phụ nữ.

Strongbow có nhiều mùi vị khác nhau nhưng Strongbow được yêu thích nhất là vị táo và dâu. Đây là hai loại được người dùng cho biết khá nhẹ, dễ uống, khi uống có vị ngọt như nước trái cây nên được giới nữ thích.

  • Strongbow có nồng độ cồn: 4.5%.

Dù được đánh giá là nhẹ, dễ uống nhưng nồng độ cồn của Strongbow khiến ai cũng hết hồn vì Strongbow có khả năng làm bạn say rất dễ dàng.

5Bia Budweiser

Nồng độ cồn của bia Budweiser

Được mệnh danh là “King of beers”, Budweiser bước vào thị trường Việt Nam với tâm thế của một vị vua, nhanh chóng chiếm linh tình yêu của những người thích bia.

Budweiser có vị hơi đắng, độ mạnh vừa phải, hậu hơi ngọt và được giới sành bia đánh giá rất cao nên trong các bữa tiệc lớn, quán Bar luôn xuất hiện loại bia này.

  • Bia Budweiser có nồng độ cồn: 5%.

6Bia Sapporo

Nồng độ cồn của bia Sapporo

Sapporo là một thương hiệu bia đến từ xứ sở mặt trời mọc, Nhật Bản. Sapporo gồm hai dòng Premium và Blue Cap và là dòng bia cao cấp nên giá thành cũng ở mức tương đối cao.

  • Bia Sapporo Premium có nồng độ cồn: 5.2%.
  • Bia Sapporo Blue Cap có nồng độ cồn: 4.5%.

Xem thêm: Làm bia sệt cực độc ngay tại nhà chỉ trong vòng 10 phút

>> Tìm hiểu về bia Sapporo, nồng độ cồn và giá bán

7Bia Beck’s

Nồng độ cồn của bia Beck

Bia Beck’s là dòng bia cùng chung nhà sản xuất với Budweiser nhưng kém cạnh hơn người anh em này, bia Beck’s ít được nhiều người Việt biết đến và chọn lựa bởi bia Beck’s được cho là có vị nặng khó uống hơn so với Budweiser.

Bia Beck’s có hai loại là bia Beck’s và bia Beck’s Ice:

  • Bia Beck’s có nồng độ cồn: 5%.
  • Bia Beck’s Ice có nồng độ cồn: 4.7%.

Xem thêm: Uống bia rượu ban đêm nhanh say hơn ban ngày, bạn có biết?

8Bia Larue

Nồng độ cồn của bia Larue

Bia Larue không phổ biến ở khu vực miền Bắc và miền Nam nhưng ở các tỉnh miền Trung, bia Larue lại được ưa thích hơn hẳn.

Với đặc tính dễ uống và nồng độ cồn khá nhẹ nên bia Larue dần trở nên được đón nhận hơn không chỉ tại miền Trung và ở miền Bắc và Nam dần cũng đã xuất hiện nhiều.

Bia Larue cũng có hai loại là bia Larue và bia Larue Special:

  • Bia Larue có nồng độ cồn: 4.2%.
  • Bia Larue Special có nồng độ cồn: 4.6%.

Xem thêm: Bia pha với nước ngọt, lợi hay hại?

9Bia Hoegaarden

Nồng độ cồn của bia Hoegaarden

Một cái tên khá là lạ nhưng Hoegaarden là dòng bia rất được ưa chuộng ở nước ngoài đặc biệt là Úc. Bởi cũng giống như Strongbow, Hoegaarden khi uống mang lại cảm giác dịu nhẹ, hậu ngọt dễ uống. Đặc biệt Hoegaarden có dòng bia Hoegaarden Rosee nồng độ cồn cực nhẹ nên rất nhiều người, nhất là phụ nữ ưa thích.

Hoegaarden có các dòng Hoegaarden naturally cloudy, Hoegaarden Rosee, Hoegaarden White:

  • Bia Hoegaarden naturally cloudy có nồng độ cồn: 4.9%.
  • Bia Hoegaarden Rosee có nồng độ cồn: 3%.
  • Bia Hoegaarden White có nồng độ cồn: 4.9%.

>> Hoegaarden – Dòng bia trắng đến từ Bỉ làm say lòng người Việt

10Bia Huda

Nồng độ cồn của bia Huda

Cũng giống như bia Larue, bia Huda cũng là một cái tên quen thuộc tại khu vực miền Trung, nó còn thậm chí còn được xem như là loại bia luôn có mặt trong mỗi gia đình.

  • Bia Huda có nồng độ cồn: 4.7%.

11Bia Sư Tử Trắng

Nồng độ cồn của bia Sư Tử Trắng

Bia Sư Tử Trắng ra đời với tham vọng chiếm lĩnh “sơn lâm”. Dù đã ra đời khá lâu nhưng bia Sư Tử Trắng đến nay vẫn phổ biến nhất ở khu vực tỉnh Nghệ An và chưa được nhiều người dùng đón nhận.

  • Bia Sư Tử Trắng có nồng độ cồn: 4.8%.

>> Tìm hiểu về dòng bia sư tử trắng

>> Bia sư tử trắng có ngon không? Gồm mấy loại?

12Bia San Miguel

Nồng độ cồn của bia San Miguel

Bia San Miguel, một thương hiệu đến từ Tây Ban Nha và được xem là dòng bia “nặng ký” với nồng độ cồn cao ngất ngưởng, chỉ dành cho những người “mạnh”.

Bia San Miguel có hai loại là Bia San Miguel Red Horse và San Miguel Pale Pilsen.

  • Bia San Miguel Red Horse có nồng độ cồn: 8%.
  • Bia San Miguel Pale Pilsen có nồng độ cồn: 5%.

>> Bia San Miguel, loại bia dành cho phái mạnh

13Bia Corona

Nồng độ cồn của bia Corona

Nghe tên thì khá là lạ nhưng Corona, thương hiệu bia đến từ Mexico được rất nhiều người Việt ưa chuộng, có hơn 3000 lượt tìm kiếm trên Google mỗi tháng.

  • Bia Corona có nồng độ cồn: 4.5%.

>> Bia Corona uống sao cho ‘chất’

14Bia Amstel

Nồng độ cồn của bia Amstel

Cái tên này nghe quen quen đúng không? Mới gia nhập vào thị trường Việt gần đây, bia Amstel đã khiến người dùng ấn tượng bởi hàng loạt quảng cáo sản phẩm của mình.

  • Bia Amstel có nồng độ cồn: 4.6%.

15Bia Việt Hà

Nồng độ cồn của bia Việt Hà

Dòng bia Việt này được khá nhiều người Hà Nội ưa chuộng.

  • Bia Việt Hà có nồng độ cồn 4% khá là nhẹ.

>> Sự khác nhau giữa bia chai, bia lon, bia tươi và bia hơi, bia sệt

16Bia Trúc Bạch

Nồng độ cồn của bia Trúc Bạch

Cũng là một loại bia bắt nguồn từ Hà Nội, bia Trúc Bạch dành cho những người ưa chuộng sự mạnh mẽ.

  • Bia Trúc Bạch có nồng độ cồn 5.1%.

17Bia Hà Nội

Nồng độ cồn của bia Hà Nội

Một loại bia nội khá phổ biến nữa là bia Hà Nội. Bia Hà Nội gồm bia Hà Nội (chai 330ml, chai 450ml và lon 330ml), bia hơi.

  • Tìm hiểu về bia Hà Nội, giá bán và nồng độ cồn của bia

Bia Hà Nội chai 330ml có nồng độ cồn 5.1%, chai 450ml 4.2%, lon 330ml 4.6%, bia hơi có nồng độ cồn trên 3.5%.

18Bia Leffe

Nồng độ cồn của bia Leffe

Bia Leffe là một loại bia nhập khẩu từ Bỉ, với hương vị đặc trưng của Bia Bỉ, rất thơm ngon và đậm đà.

  • Bia Leffe Blonde có nồng độ cồn là 6.6%.
  • Bia Leffe Brune có nồng độ cồn là 6.5%.

>> Tìm hiểu về dòng bia Leffe, tinh hoa lâu đời của dòng bia Bỉ

18 Bia Ruby

Bia RubyBia Ruby

Bia Ruby là một sản phẩm bia thuộc tập đoàn Masan nổi tiếng, được ra mắt ở thị trường Việt Nam năm 2020. Bia Ruby được ứng dụng công nghệ từ Đức, cũng như các nguyên liệu được nhập khẩu từ đất nước này, đảm bảo các tiêu chuẩn trong sản xuất cho chất lượng được đảm bảo.

Hương vị của bia khi thưởng thức khá nhẹ nhàng, nồng ấm, có hậu vị ngọt, không quá đắng, thích hợp với cả phụ nữ.

  • Bia Ruby có nồng độ cồn là 4.3%.

Nhìn chung, bia tại Việt Nam độ cồn nằm trong khoảng từ 1% đến 8%, đa số là khoảng 5%. Độ cồn bia 5% phù hợp với những cuộc vui vừa phải. Những ai uống bia có độ cồn cao đến 7-12% phải uống có trách nhiệm, có giới hạn và tốt nhất không nên lái xe vì không an toàn. Vài loại bia có nồng độ cồn thấp (dưới 0.5%) phù hợp cho người lái xe, du lịch, uống để giải khát, dành cho nữ giới hay các dịch vụ spa làm đẹp từ bia.

Bia là thức uống của các cuộc vui. Hãy nắm rõ nồng độ cồn của từng loại bia để chọn cho mình loại phù hợp nhất với tính chất của cuộc vui và sức khỏe của mình nhé!

Bạn sẽ quan tâm:

Xem thêm:

  • Uống bia có mập không? Nguyên nhân chính dẫn đến tăng cân khi uống bia là gì
  • Những thực phẩm nên ăn và không nên ăn khi say rượu bia
  • 5 cách tắm trắng bằng bia đơn giản mà hiệu quả không ngờ

Đặt mua bia giao hàng trong ngày tại Bách hoá XANH:

Kinh nghiệm hay Bách Hóa XANH

Lệ phí thay đổi họ tên 2021?

Thủ tục thay đổi họ tên trong giấy khai sinh

Lệ phí thay đổi họ tên 2021 gồm những gì? Muốn thay đổi họ tên phải làm như thế nào?

Quy định về thay đổi họ, tên

  • 1. Thủ tục thay đổi họ tên trong giấy khai sinh
  • 3. Lệ phí thay đổi họ tên 2021
  • 4. Thủ tục đổi tên khai sinh cho con
  • 5. Thẩm quyền thay đổi họ
  • 6. Đơn xin thay đổi họ tên

1. Thủ tục thay đổi họ tên trong giấy khai sinh

Quyền thay đổi tên được quy định tại điều 28 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) như sau:

1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

d) Thay đổi tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

đ) Thay đổi tên của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi;

e) Thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính;

g) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

2. Việc thay đổi tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

Việc thay đổi họ được quy định tại điều 27 BLDS như sau:

1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:

a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;

b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;

c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;

d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;

đ) Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

e) Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi;

g) Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;

h) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

2. Việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

Thủ tục thay đổi họ tên trong giấy khai sinh

Theo quy định tại khoản 1 điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP: Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó (thể hiện trong tờ khai)

Thủ tục:

Người yêu cầu thay đổi họ tên nộp tờ khai và giấy tờ liên quan (cần xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần thay đổi họ, tên và các giấy tờ có liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi họ, tên của người đó) cho cơ quan đăng ký hộ tịch:

  • Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân (đối với việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi)
  • Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân (đối với việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước)

3. Lệ phí thay đổi họ tên 2021

Theo Điều 3 Thông tư 85/2019/TT-BTC, lệ phí hộ tịch thuộc danh mục các khoản lệ phí thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

=> Tùy từng điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương mà mỗi tỉnh sẽ có một mức lệ phí thay đổi họ tên khác nhau.

Ví dụ:

Tỉnh Quảng Ninh: Đối với việc thay đổi, cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh cho người đủ 14 tuổi trở lên thì mức phí là 25.000 đồng/lần (thay đổi hoặc cải chính)

TP Hà Nội: Theo Nghị quyết số 06/2020/NQ-HĐND Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, mức lệ phí thay đổi hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi cư trú trong nước thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã là 5.000 đồng/ việc, mức lệ phí thay đổi hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú trong nước thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện là 25.000 đồng/ việc. Các trường hợp đăng ký hộ tịch cho người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật; được miễn lệ phí khi đăng ký.

4. Thủ tục đổi tên khai sinh cho con

Để được đổi họ, tên thì phải có căn cứ quy định tại BLDS được TTTD.VN trích dẫn tại mục 1 bài này hoặc có căn cứ chứng minh có sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch.

Để thực hiện thủ tục đổi tên khai sinh cho con, người có quyền yêu cầu phải nộp tờ khai và các giấy tờ liên quan đến cơ quan đăng lý hộ tịch (được trích dẫn tại mục 2 bài này):

  • Chứng minh nhân dân của cha, mẹ khi đi làm thủ tục (người đại diện theo pháp luật của con);
  • Sổ hộ khẩu chứng minh về nơi cư trú;
  • Tờ khai xin thay đổi họ tên cho con (theo mẫu);
  • Bản chính giấy khai sinh của con;
  • Các loại giấy tờ khác liên quan đến việc thay đổi tên cho con.

5. Thẩm quyền thay đổi họ

Thẩm quyền cải chính hộ tịch được quy định như sau:

  • Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân (đối với việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi)
  • Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân (đối với việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước)

6. Đơn xin thay đổi họ tên

Các bạn có thể tải mẫu Đơn xin thay đổi họ tên tại bài:

  • Mẫu đơn xin thay đổi tên cho con
  • Mẫu đơn xin thay đổi tên đệm
  • Mẫu tờ khai đăng ký việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch

Trên đây, TTTD.VN đã cung cấp cho bạn đọc Lệ phí thay đổi họ tên 2021. Mời các bạn tham khảo thêm các bài viết liên quan tại mục Hành chính, mảng Hỏi đáp pháp luật.

Các bài viết liên quan:

  • Thủ tục đổi tên cha mẹ trong giấy khai sinh
  • Đổi họ cho con sang họ cha dượng được không?
  • Đất 5 công ích là gì? Có được xây nhà và cấp sổ đỏ đất 5 không?

Bài dự thi viết về người phụ nữ tôi yêu

Cuộc thi “Viết về người phụ nữ tôi yêu”

Mẫu bài viết về người phụ nữ tôi yêu

  • 1. Bài viết gửi người phụ nữ tôi yêu
  • 2. Bài viết về người phụ nữ tôi yêu – mẫu số 1
  • 3. Bài viết về người phụ nữ tôi yêu – mẫu số 2
  • 4. Bài viết về người phụ nữ tôi yêu – mẫu số 3

Cuộc thi viết về người phụ nữ tôi yêu – Nhằm hướng tới hoạt động kỷ niệm chào mừng Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam(20/10/1930-20/10/2020). Cuộc thi “Viết về người phụ nữ tôi yêu” được phát động nhằm tôn vinh những tấm gương phụ nữ tiêu biểu trong đời sống gia đình cũng như các lĩnh vực của đời sống xã hội). Sau đây là một số mẫu bài dự thi viết về người phụ nữ tôi yêu TTTD.VN đã tổng hợp xin chia sẻ đến các bạn.

  • Bài dự thi điển hình “Dân vận khéo” năm 2020
  • Bài dự thi Đại sứ văn hóa đọc của sinh viên

1. Bài viết gửi người phụ nữ tôi yêu

Tình yêu của mẹ

Mẹ luôn dõi theo từng bước tôi đi trên cuộc đời mình.

Tôi sinh ra dưới tình yêu thương của bố mẹ. Bố vất vả đi kiếm tiền nuôi gia đình nên chị em tôi cảm nhận nhiều tình cảm của mẹ hơn. Mẹ bảo bà ngoại mất sớm, mẹ không biết thế nào là được chăm sóc từ bà. Những điều mẹ học được là toàn nhìn từ cô hàng xóm dạy con gái cô ấy. Bây giờ hai đứa có mẹ là phải biết nghe lời. Lúc nghe câu ấy, tôi còn ngây ngô lắm. Bây giờ ra xã hội mới thấm những lời của mẹ dạy.

Tôi hạnh phúc khi luôn có mẹ quan tâm.

Ngày tôi trượt đại học, mẹ mất ăn mất ngủ. Không phải vì mẹ trách tôi làm xấu hổ gia đình, mà mẹ lo cho tôi. Mẹ bảo con chọn trường, chọn nghề con thích nhưng chả đỗ được, mẹ chọn nghề gì cho con bây giờ. Thế rồi mẹ bảo tôi nộp nguyện vọng vào Sư phạm. Mẹ biết tôi không thích nhưng chỉ nói là “mẹ tin con sẽ phù hợp với nghề này”.

Tôi nghe lời mẹ, cắp cặp đi học nghề làm thầy. Ra trường, tôi đi làm, mẹ khuyên nên cố gắng học tập các anh các chị đi trước, vốn kiến thức là mênh mông, và nhớ học cả cách sống. Tôi đi làm, quay vào công việc, thỉnh thoảng về với mẹ, mẹ hay trêu tôi rằng: “Người ta bảo con gái mẹ nhàn, làm giáo viên là nhàn nhất, thế mà còn không có nổi thời gian dành cho mẹ”. Mẹ cứ vậy, dõi theo từng bước tôi đi trên cuộc đời mình.

Ngày tôi đi lấy chồng, mẹ sợ còn vụng dại, nên dặn cả mẹ chồng tôi. Mẹ bảo bà bảo ban con dâu nhẹ nhàng, sợ tôi đến với môi trường mới còn nhiều bỡ ngỡ.

Tôi và mẹ đều là người ít bày tỏ tình cảm, chưa bao giờ cả hai nói lời yêu thương. Song tôi hiểu, mẹ đã vất vả rất nhiều. Mẹ tiếc tiền khi mua đồ cho chính bản thân mà luôn dành cho con. Mẹ cũng muốn làm đẹp như những người phụ nữ khác, nhưng do hoàn cảnh không cho phép.

Mẹ đã hy sinh, thầm lặng, tần tảo. Mẹ là siêu nhân, cái gì vô tay mẹ cũng hoàn hảo, từ nấu ăn đến việc nhà. Mẹ luôn bênh con dù con đáng bị phạt. Biết rằng dù có viết ở đây thì mẹ cũng không thể đọc được. Con sẽ chỉ giữ lời yêu trong lòng mình thôi.

Viết về người phụ nữ tôi yêu

2. Bài viết về người phụ nữ tôi yêu – mẫu số 1

Những câu chuyện không hồi kết về mẹ:

* Buồn:

– Là những lúc con không nghe lời.

– Là năm lớp 9 con không đi thi học sinh giỏi toán.

– Là năm lớp 12, đến ngày thi đại học con mới nói với mẹ là con không thi khối A trong khi con dành 3 năm cấp 3 học chuyên Toán.- Là những lúc về quê: “Sao mà không béo lên được tí nào vậy?”

– Là lúc biết con yêu xa, mẹ khuyên can con không được.

– Là khi con đi lấy chồng xa, mẹ lên xe về, lòng vẫn cảm thấy không yên.…

Lo lắng:

– Là mỗi khi con đi học về muộn.

– Trời mưa to, con không mang áo mưa, mẹ mắng: “Không mang áo mưa ướt hết sách vở rồi” (Nhiều lúc con buồn vì mẹ chỉ lo sách vở ướt. Mỗi lần bị mưa ướt, mẹ lại ngồi lấy sách vở ra, hong quạt cho khô. Rồi thì cả giường toàn là sách, vở)

– Là năm lớp 12, con bị ốm, không đi học được. Rồi thì cả đêm mẹ thức. Con bị sốt, nhớ mãi cái đêm đó, mẹ cứ một lúc lại vào phòng sờ trán xem con đã hạ sốt chưa

– Là khi con thi thử đại học, điểm thấp nhất lớp, mẹ không nói gì, chỉ nói con cố gắng

– Là khi con chỉ thi một khối, cái khối con không chuyên. Mẹ lo lắng lắm, nói cho các dì, các cậu biết nhưng không cho con biết, chỉ nói rằng: “Như vậy cũng được, có thời gian tập trung ôn thi khối D”.

– Là hồi nghỉ hè năm nhất đại học, con bị ngộ độc thức ăn đến mức bị co giật. Hai giờ sáng, mẹ nghe tiếng con gọi, mẹ vừa sợ vừa lo bảo bố gọi điện cho bác thầy thuốc trong xóm, rồi gọi cho các bác vào. Bố lo đến gần khóc, mẹ lo nhưng vẫn bình tĩnh ngồi bóp dầu cho con. Không có mẹ, chắc con không qua khỏi.

– Là khi công việc con chưa ổn định, mẹ vẫn thường gọi điện hỏi thăm.

– Là khi mẹ lo thực phẩm ở thành phố đắt đỏ, mẹ hay hỏi hết thức ăn chưa để mẹ gửi ở quê ra.

– Là ngày đám cưới con, trời cứ mưa mãi không dứt.

Là khi vừa có thông tin dịch bệnh ở Hà Nội, mẹ gọi điện ra và căn dặn con rất nhiều…….

* Vui:

– Là lúc con đạt kết quả cao trong học tập.

– Là khi con biết điểm đỗ vào đại học, 12h30 trưa mà mẹ vẫn giục con nhắn tin báo cho mọi người biết điểm.

– Là lúc con gọi điện về nhà, kể mẹ nghe mọi chuyện về học hành, cuộc sống mới, bạn bè, thầy cô, trường lớp mới.

– Là những ngày 8/3 hay 20/10, con mua hoa về tặng mẹ, mẹ đi khoe với các bác, các cậu rằng được cô con gái tặng hoa.

Là những bữa cơm gia đình, cả nhà kể cho nhau nghe rất nhiều chuyện vui.

– Là những khi con gọi video về nói chuyện với bố mẹ, lần nào cũng nói chuyện rất lâu…..

* Những câu nói “bất hủ” của mẹ:

– “Không có mẹ thì nhà này buồn lắm, làm sao mà cười nhiều được như thế này”

– “Đó là mẹ sinh ra không đúng thời thôi. Mẹ mà sinh ra đúng thời thì mẹ cũng đã khác, mẹ sướng hơn thế này nhiều” (Con biết, nhưng mẹ ơi, nếu mẹ không sinh ra vào thời này thì con có được là con của mẹ không ạ?)

– “Đi chợ không thích quần áo, không thích gì hết, chỉ thích mấy cái đĩa nhạc của mấy thằng Hàn Quốc thôi” (Mẹ nói mình đấy!!!)

– Ai cũng nói mình: “Vừa học vừa nghe nhạc vậy thì học vào thế nào được?”. Mẹ: “Kệ, nó thích thế!”

– Mẹ nói: “Lo mà học đi, đừng có nghe nhạc nhiều”, thế mà khi nào có chương trình âm nhạc là mẹ lại gọi mình ra xem

Mẹ nói không thích phim Hàn ở chỗ: “Tên khó nhớ, khó đọc” nên khi kể chuyện mẹ toàn nói thằng này thằng kia.

Mẹ nói không thích kiểu cứ lên Facebook rồi thông báo cái này, hay khoe cái kia. Mẹ nói ai biết thì người ta sẽ tự biết, việc gì phải lên Facebook rồi nói hết ra.

Thực tế mà nói thì mình không hẳn là một đứa hay thể hiện tình cảm, đặc biệt là với mẹ. Mặc dù mình biết và hiểu tính mẹ, nhưng mình toàn làm cho mẹ buồn và lo lắng. Đặc biệt là lúc mẹ biết mình yêu xa và xác định sẽ cưới, hai mẹ con đã đấu tranh với nhau rất nhiều, thậm chí là đã có lúc chiến tranh lạnh. Nhưng cuối cùng mẹ nói không lại mình, đành thở dài mà chấp nhận rằng: “Trời không chịu đất thì đất phải chịu trời”. Mình biết những điều mẹ nói, những việc mẹ làm vì yêu thương và lo lắng cho mình mới vậy. Nên mình đang cố gắng mỗi ngày đều sống thật tốt và thật hạnh phúc với gia đình nhỏ của mình để mẹ được yên tâm, vì mình biết, đối với mẹ không có niềm vui nào hơn việc nhìn thấy con cái trưởng thành và sống hạnh phúc.”CẢM ƠN MẸ VÌ TẤT CẢ. CON YÊU MẸ NHIỀU LẮM!”

3. Bài viết về người phụ nữ tôi yêu – mẫu số 2

Chị gái cả – người anh hùng của lòng tôi

Mỗi người chúng ta, ai cũng có một người mẹ. Họ là những người mang nặng, đẻ đau chín tháng mười ngày, chăm sóc chúng ta từ khi còn bé đến lúc chúng ta lớn lên, trưởng thành, họ vẫn luôn là bờ vai, là nguồn động viên cho ta khi ta vấp ngã. Tôi không như bao đứa trẻ khác, tôi là một đứa trẻ mồ côi. Và chị gái tôi – người mà tôi yêu thương nhất đã thay mẹ chăm sóc tôi cho đến tận bây giờ.

Chị gái tôi tên là Thắm, năm nay đã 30 nồi bánh chưng rồi. Nhưng chưa bao giờ nói mình 30 tuổi cả, chị nói: “Chị Thắm mới 29 tuổi thôi”. Chị tôi rất hay cười, người lạ chắc hẳn sẽ không biết, đằng sau nụ cười ấy, lại ẩn chứa một tuổi thơ bất hạnh và sự mạnh mẽ vươn lên của người phụ nữ mà tôi yêu thương nhất.

Chị ấy sinh ra không giống ba anh chị em tôi, cạnh bên một nữa khuôn mặt xinh đẹp kia là một nửa khuôn mặt biến dạng không như bình thường, chị bảo là do lúc mang thai chị, mẹ tôi vô tình bị ảnh hưởng bởi thuốc bảo vệ thực vật cho nên khi sinh ra không lành lặn, chị vẫn cười. Khi lớn lên, cắp sách đến trường, chị ấy không thể tránh khỏi những ánh mắt xa lánh, miệt thị từ bạn bè, họ chê bai, dè bĩu lên khuôn mặt ấy. Mặc kệ những lời chê bai đó, chị tôi nổ lực học tập, đạt nhiều thành tích cao, chị ấy học giỏi lắm. Nhiều thầy cô khi đã dạy chị ấy thường nói tôi không học giỏi bằng chị, tôi cũng cảm thấy có đôi chút xấu hổ, nhưng tôi cũng rất tự hào về chị gái của tôi.

Bất hạnh trong cuộc đời của chị Thắm, của gia đình tôi vẫn chưa dừng lại, mà vẫn tiếp tục, phá vỡ không khí hạnh phúc. Ba của tồi đã qua đời sau một cơn bạo bệnh. Mẹ và chị gái hằng ngày làm việc vất vả để mưu sinh, kiếm ăn, đồng thời muốn chúng tôi ăn học nên người.

Ông trời trêu ngươi, mẹ của tôi làm việc quá lao lực, đâm bệnh, một căn bệnh không thể chữa trị: ung thư phổi. Căn bệnh đó đã hành hạ mẹ tôi từ tháng này qua tháng nọ, qua từng lần hóa trị, xạ trị, mái tóc xuân xanh ngày nào đã rụng dần rụng dần. Và cuối cùng mẹ tôi đã ra đi không bao giờ trở lại.

Thế mẹ, thay cha, chị tôi chăm sóc ba đứa em của mình, chị tôi là một người tham công tiếc việc, chị làm việc lao lực tại thành phố Hồ Chí Minh một mình, ốm đau cũng một mình cam chịu, không nói với ai. Chị luôn bảo là phải học thật giỏi, thật ngoan, rằng chúng tôi đã là những người sung sướng nhất, không như mẹ tôi, bà chưa tận hưởng một ngày thật sự là hạnh phúc. Chị rất thương tôi, bằng một tình cảm chan chứa, một tấm lòng bao la, rộng lớn.

Chị tôi chưa lấy chồng, có nhiều người ngỏ lời nhưng chị tôi đều thẳng thừng từ chối, chắc có lẻ là chị thấy chúng tôi chưa thực sự trưởng thành, đủ để làm chị ấy yên tâm để tìm kiếm hạnh phúc trong một gia đình mới.

Nếu bây giờ có một điều ước, tôi thật lòng mong rằng sẽ có một phép màu diệu kì nào đó biến khuôn mặt của chị tôi trở nên xinh đẹp. Hay đơn giản hơn, tôi muốn chị ấy sẽ mãi mãi vui vẻ, luôn nở nụ cười trên môi và sống những ngày hạnh phúc.

Lời cuối cùng, chẳng có gì hơn, nhân ngày phụ nữ Việt Nam 20 tháng 10, tôi xin chúc các bà, các mẹ, các chị, các cô, các bác,…một lời chúc chân thành, chúc mọi người luôn luôn vui vẻ hạnh phúc và sức khỏe dồi dào.

4. Bài viết về người phụ nữ tôi yêu – mẫu số 3

Mẹ yêu của con!

Có lẽ đây là lần đầu tiên con cầm bút viết lên những dòng tâm sự này để gửi đến mẹ. Thật ra, khi viết, con cũng không biết mình nên viết về cái gì nữa, không phải con không có gì để nói với mẹ mà chỉ là những điều mẹ làm cho con quá nhiều, qua lớn lao khiến chính bản thân con cũng không biết mình nên nói từ đâu, bắt đầu như thế nào.

Dường như chưa một lần trong suốt những năm tháng qua con nói với mẹ rằng “Con yêu mẹ, con thương mẹ”. Con chỉ mặc nhiên đón nhận sự yêu thương, chăm sóc, chiều chuộng của mẹ. Nhưng trong sâu thẳm trái tim con, mẹ là người quan trọng nhất, người con yêu thương nhất, người phụ nữ duy nhất trong trái tim con.

Con biết con là niềm tự hào của mẹ. Con cảm nhận được qua ánh mắt lấp lánh yêu thương của mẹ. Ngay từ nhỏ, con đã được mẹ chăm chút, lo lắng. Ngày 20/10 là ngày mà con tròn 16 tuổi, cũng trở thành một thiếu nữ rồi mẹ nhỉ? Nhưng trong mắt mẹ con vẫn luôn là đứa con gái nhỏ cần đến từng sự chở che, giúp đỡ của mẹ.

Một cô bé bướng bỉnh, ngang ngược, như con đã không ít lần khiến mẹ buồn chỉ vì những lời nói thiếu suy nghĩ và tính tình trẻ con của bản thân. Mẹ luôn muốn tốt cho con, vậy mà con lại ích kỉ chỉ ôm lấy ý kiến riêng của mình, chẳng bao giờ nghe lời mẹ nói. Con sai rồi mẹ ạ, con nên biết sống sao cho đúng với hai tiếng “Công cha – Nghĩa mẹ”.

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ, kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

Con được sinh ra trong vòng tay dịu dàng, ấm áp của mẹ. Chín tháng cưu mang, mẹ chịu nhiều gian khổ rồi lại chắt chiu từng giọt sữa ngọt ngào để nuôi con khôn lớn. Con lớn lên trong sự dưỡng dục, trong sự yêu thương, lo lắng của mẹ. Quả thật công lao ấy mênh mông vô tận như nước trong nguồn.

Mẹ ơi, mẹ biết con yêu mẹ nhiều lắm không? Mẹ à, 15 năm không dài cũng không ngắn nhưng nó là khoảng thời gian thật đẹp. Đi qua từng năm, từng năm một con lớn hơn, trưởng thành hơn, trở thành một cô gái hoàn thiện hơn qua bàn tay chăm sóc của mẹ. Con hạnh phúc nhiều lắm vì con có một người mẹ luôn tha thứ, bảo ban con khi con vấp ngã và sai lầm trên đường đời. Mẹ dạy con cách sống, lắng nghe con khi con cần. Đôi khi con cũng chạnh lòng vì mẹ so sánh con với “con nhà người ta”, lúc đó con chỉ biết giận hờn vô cớ rồi phát ra những ngôn từ làm tổn thương mẹ mà chẳng biết mẹ so sánh như vậy chỉ để con trưởng thành hơn. Mẹ là người nuôi nấng con, sao mẹ lại hạ thấp con được, mẹ chỉ muốn thúc đẩy con thôi. Con hối hận lắm mẹ ơi, tội lỗi của con thật đáng trách.

“Để đền ơn tạo hóa

Chim biết cất tiếng ca

Cây xanh vì đất mẹ

Đơm sum xuê hoa trái

Ơn mẹ bao năm tháng

Biết lấy gì hiến dâng

Con muốn vén nắng rực

Làm áo mẹ đừng phai

Muốn kéo thời gian lại

Để tóc đừng thêm bạc

Con muốn gom vất vả

Của đời mẹ gian truân

Những ưu phiền vì con”

Hằng ngày mẹ phải lo toan bộn bề công việc trong gia đình, quán xuyến tất cả từ việc nhỏ đến việc lớn trong nhà. Con ngưỡng mộ mẹ rất nhiều, mẹ thật vỹ đại, bao nhiêu công việc mệt nhọc như thế mà mẹ chưa bao giờ than nổi một tiếng. Mai sau lớn lên con cũng sẽ trở thành một người tài giỏi, biết hy sinh cho gia đình và cao thượng như mẹ vậy.

Có lẽ trong mắt người khác mẹ không hoàn mỹ, không đẹp không tuyệt vời nhưng với con mẹ và gia đình luôn là số một, không gì sánh bằng, là tất cả và luôn là lí do để con cố gắng vươn lên từng ngày, rèn luyện bản thân trở nên tốt đẹp. Từ khi con nhận thức được mọi việc, con biết mẹ của con là người mạnh mẽ, thật không dễ dàng thấy được giọt nước mắt yếu đuối đọng ở khóe mắt mẹ. Dù mệt mỏi, mẹ cũng không bao giờ để lộ ra bên ngoài, lúc nào con cũng chỉ thấy ánh mắt biết cười của mẹ, ánh mắt ấy luôn hướng đến con mà thôi.

Con biết có lẽ bây giờ con chưa đủ tốt hay thậm chí là rất tệ nhưng mẹ ơi con biết một điều, có thể con đường tương lai phía trước của con sẽ có những rào cản, những cám dỗ, làm con lạc mất phương hướng, nhưng ở phía con đường tương lai ấy luôn có nụ cười, ánh mắt, tình thương yêu của mẹ, nó chính là ánh sáng, là sự thức tỉnh khi con lạc lối, bàn tay mẹ sẽ luôn nắm lấy tay con cho con niềm vui và sức mạnh.

Mẹ dành cả thanh xuân, cả cuộc đời để nuôi nấng, dạy dỗ con nên người. Ngàn lời cảm ơn, vạn lời xin lỗi biết phải nói sao cho vừa. Dòng thời gian cứ lặng lẽ trôi đi, đôi mắt mẹ đã in hằn những vết chân chim.

“Tôi muốn là hạt nắng để đến bên mẹ

Ươm lên sợi tóc để tóc sáng long lánh

Tôi muốn là ngọn gió để đến ôm mẹ

Hôn lên đôi mắt hằn sâu dấu chân chim”

Con sợ lắm khi nghĩ đến ngày mai, ngày mà mẹ sẽ rời xa con, xa gia đình mãi mãi, con sẽ ở một nơi mà con không thể nhìn thấy mẹ nữa, nỗi sợ hãi bủa vây lấy con không lối thoát khiến con hoang mang. Nếu mẹ đi thì ai sẽ nắm lấy đôi tay nhỏ bé của con, ai sẽ lắng nghe con, dạy con những chân lý của cuộc đời và ai sẽ cho con niềm tin, sức mạnh để tiến về phía trước. Nói đến đây, con thật sự thấy lo lắng và sợ hãi.

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con”

Mẹ là người bạn cho con cuộc sống này, dạy cho con biết “cuộc sống là gì?”. Kỷ niệm bên mẹ là những hồi ức đẹp đẽ nhất của con, là những trang kỷ niệm theo con đến hết cuộc đời này. Bất kể sau này có xa cách về khoảng cách địa lí nhưng cũng không thể ngăn cản tình thương của mẹ gửi đến con. Tình yêu thương của mẹ vẫn luôn mãi bên con dù cho một ngày nào đó mẹ không còn ở thế gian này nữa.

Ngày của mẹ, con chỉ biết nguyện cầu cho mẹ thật nhiều hạnh phúc, sức khoẻ, ngập tràn niềm vui. Con mong mẹ có thể bước tiếp cùng con trên suốt chặng đường dài phía trước. Con sẽ không ngừng cố gắng để thực hiện ước mơ, hoài bão của con, để mẹ không phải phiền lòng vì con nữa. Con yêu mẹ nhiều lắm!

Con yêu của mẹ!

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH24

Bài thu hoạch BDTX module TH24 cấp tiểu học

TTTD.VN xin gửi tới thầy cô bài viết bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH24 để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH24 là bài viết thu hoạch về việc đánh giá kết quả học tập của học sinh cấp tiểu học. Mời thầy cô cùng tham khảo chi tiết và tải về bài thu hoạch module TH24 tại đây.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH25
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH4
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH5
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH6

Bài thu hoạch BDTX module TH24

  • 1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH24 số 1
  • 2. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH24 số 2

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH24 số 1

MODUL TH 24

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP Ở TIỂU HỌC

1. Khái niệm cơ bản về đánh giá kết quả học tập ở tiểu học

Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện, của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục khác, trong đó bao gồm cả quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng ở nhà trường, gia đình và cộng đồng.

– Trong đánh giá thường xuyên, giáo viên ghi những nhận xét đáng chú ý nhất vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục, những kết quả học sinh đã đạt được hoặc chưa đạt được; biện pháp cụ thể giúp học sinh vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ; các biểu hiện cụ thể về sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh; những điều cần đặc biệt lưu ý để giúp cho quá trình theo dõi, giáo dục đối với cá nhân, nhóm học sinh trong học tập, rèn luyện

2. Nguyên tắc đánh giá kết quả học tập ở tiểu học

  • Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan.
  • Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học.
  • Kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất.
  • Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh

III. Phân loại kiểm tra và đánh giá kết quả học tập ở tiểu học

1. Đánh giá định kì kết quả học tập

Hiệu trưởng chỉ đạo việc đánh giá định kì kết quả học tập, mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học vào cuối học kì I và cuối năm học đối với các môn học: Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc bằng bài kiểm tra định kì.

Đề bài kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức độ nhận thức của học sinh:

a) Mức 1: học sinh nhận biết hoặc nhớ, nhắc lại đúng kiến thức đã học; diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình và áp dụng trực tiếp kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập;

b) Mức 2: học sinh kết nối, sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết tình huống, vấn đề mới, tương tự tình huống, vấn đề đã học;

c) Mức 3: học sinh vận dụng các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được hướng dẫn hay đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống.

Bài kiểm tra định kì được giáo viên sửa lỗi, nhận xét những ưu điểm và góp ý những hạn chế, cho điểm theo thang điểm 10 (mười), không cho điểm 0 (không) và điểm thập phân.

2. Tổng hợp đánh giá

Vào cuối học kì I và cuối năm học, hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm họp với các giáo viên dạy cùng lớp, thông qua nhận xét quá trình và kết quả học tập, hoạt động giáo dục khác để tổng hợp đánh giá mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của từng học sinh về:

a) Quá trình học tập từng môn học, hoạt động giáo dục khác, những đặc điểm nổi bật, sự tiến bộ, hạn chế, mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng; năng khiếu, hứng thú về từng môn học, hoạt động giáo dục, xếp loại từng học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục thuộc một trong hai mức: Hoàn thành hoặc Chưa hoàn thành;

b) Mức độ hình thành và phát triển năng lực: những biểu hiện nổi bật của năng lực, sự tiến bộ, mức độ hình thành và phát triển theo từng nhóm năng lực của học sinh; góp ý với học sinh, khuyến nghị với nhà trường, cha mẹ học sinh; xếp loại từng học sinh thuộc một trong hai mức: Đạt hoặc Chưa đạt;

c) Mức độ hình thành và phát triển phẩm chất: những biểu hiện nổi bật của phẩm chất, sự tiến bộ, mức độ hình thành và phát triển theo từng nhóm phẩm chất của học sinh; góp ý với học sinh, khuyến nghị với nhà trường, cha mẹ học sinh; xếp loại từng học sinh thuộc một trong hai mức: Đạt hoặc Chưa đạt;

d) Các thành tích khác của học sinh được khen thưởng trong học kì, năm học.

Giáo viên chủ nhiệm ghi nhận xét, kết quả tổng hợp đánh giá vào học bạ. Học bạ là hồ sơ chứng nhận mức độ hoàn thành chương trình và xác định những nhiệm vụ, những điều cần khắc phục, giúp đỡ đối với từng học sinh khi bắt đầu vào học kì II hoặc năm học mới.

2. Đánh giá học sinh khuyết tật và học sinh học ở các lớp học linh hoạt Dựa trên quy định đánh giá học sinh tiểu học, việc đánh giá học sinh khuyết tật và học sinh học ở các lớp học linh hoạt bảo đảm quyền được chăm sóc và giáo dục đối với tất cả học sinh.

Đối với học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục hoà nhập, nếu khả năng của học sinh có thể đáp ứng được yêu cầu chương trình giáo dục chung thì được đánh giá như đối với học sinh bình thường nhưng có giảm nhẹ yêu cầu về kết quả học tập. Những môn học hoặc hoạt động giáo dục mà học sinh không có khả năng đáp ứng yêu cầu chung thì được đánh giá theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.

Đối với học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục chuyên biệt, nếu khả năng của học sinh đáp ứng được yêu cầu chương trình giáo dục chuyên biệt thì được đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt. Những môn học hoặc hoạt động giáo dục mà học sinh không có khả năng đáp ứng yêu cầu giáo dục chuyên biệt thì được đánh giá theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.

Đánh giá học sinh học ở các lớp học linh hoạt: giáo viên căn cứ vào nhận xét, đánh giá thường xuyên qua các buổi học tại lớp linh hoạt và kết quả đánh giá định kì môn Toán, môn Tiếng Việt được thực hiện theo quy định tại Điều 10 của Quy định này.

3. Nội dung đánh giá kết quả học tập ở tiểu học

Đánh giá thường xuyên hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học, hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học

Tham gia đánh giá thường xuyên gồm: giáo viên, học sinh (tự đánh giá và nhận xét, góp ý bạn qua hoạt động của nhóm, lớp); khuyến khích sự tham gia đánh giá của cha mẹ học sinh.

Giáo viên đánh giá:

a) Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học, của mỗi hoạt động mà học sinh phải thực hiện trong bài học, giáo viên tiến hành một số việc như sau:

– Quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm vụ của học sinh, nhóm học sinh theo tiến trình dạy học;

– Nhận xét bằng lời nói trực tiếp với học sinh hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở của học sinh về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được; mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của học sinh;

– Quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của học sinh; áp dụng biện pháp cụ thể để kịp thời giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn. Do năng lực của học sinh không đồng đều nên có thể chấp nhận sự khác nhau về thời gian, mức độ hoàn thành nhiệm vụ;

b) Hàng tuần, giáo viên lưu ý đến những học sinh có nhiệm vụ chưa hoàn thành; giúp đỡ kịp thời để học sinh biết cách hoàn thành;

c) Hàng tháng, giáo viên ghi nhận xét vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục về mức độ hoàn thành nội dung học tập từng môn học, hoạt động giáo dục khác; dự kiến và áp dụng biện pháp cụ thể, riêng biệt giúp đỡ kịp thời đối với những học sinh chưa hoàn thành nội dung học tập môn học, hoạt động giáo dục khác trong tháng;

d) Khi nhận xét, giáo viên cần đặc biệt quan tâm động viên, khích lệ, biểu dương, khen ngợi kịp thời đối với từng thành tích, tiến bộ giúp học sinh tự tin vươn lên;

đ) Không dùng điểm số để đánh giá thường xuyên.

Học sinh tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn:

a) Học sinh tự đánh giá ngay trong quá trình hoặc sau khi thực hiện từng nhiệm vụ học tập, hoạt động giáo dục khác, báo cáo kết quả với giáo viên;

b) Học sinh tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập môn học, hoạt động giáo dục; thảo luận, hướng dẫn, giúp đỡ bạn hoàn thành nhiệm vụ.

Cha mẹ học sinh tham gia đánh giá: Cha mẹ học sinh được khuyến khích phối hợp với giáo viên và nhà trường động viên, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện; được giáo viên hướng dẫn cách thức quan sát, động viên các hoạt động của học sinh hoặc cùng học sinh tham gia các hoạt động; trao đổi với giáo viên các nhận xét, đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp, thuận tiện nhất như lời nói, viết thư.

Đánh giá thường xuyên sự hình thành và phát triển năng lực của học sinh

Các năng lực của học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm cuộc sống trong và ngoài nhà trường. Giáo viên đánh giá mức độ hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh thông qua các biểu hiện hoặc hành vi như sau:

a) Tự phục vụ, tự quản: thực hiện được một số việc phục vụ cho sinh hoạt của bản thân như vệ sinh thân thể, ăn, mặc; một số việc phục vụ cho học tập như chuẩn bị đồ dùng học tập ở lớp, ở nhà; các việc theo yêu cầu của giáo viên, làm việc cá nhân, làm việc theo sự phân công của nhóm, lớp; bố trí thời gian học tập, sinh hoạt ở nhà; chấp hành nội quy lớp học; cố gắng tự hoàn thành công việc;

b) Giao tiếp, hợp tác: mạnh dạn khi giao tiếp; trình bày rõ ràng, ngắn gọn; nói đúng nội dung cần trao đổi; ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng; ứng xử thân thiện, chia sẻ với mọi người; lắng nghe người khác, biết tranh thủ sự đồng thuận; c) Tự học và giải quyết vấn đề: khả năng tự thực hiện nhiệm vụ học cá nhân trên lớp, làm việc trong nhóm, lớp; khả năng tự học có sự giúp đỡ hoặc không cần giúp đỡ; tự thực hiện đúng nhiệm vụ học tập; chia sẻ kết quả học tập với bạn, với cả nhóm; tự đánh giá kết quả học tập và báo cáo kết quả trong nhóm hoặc với giáo viên; tìm kiếm sự trợ giúp kịp thời của bạn, giáo viên hoặc người khác; vận dụng những điều đã học để giải quyết nhiệm vụ trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện những tình huống mới liên quan tới bài học hoặc trong cuộc sống và tìm cách giải quyết.

Hàng ngày, hàng tuần, giáo viên quan sát các biểu hiện trong các hoạt động của học sinh để nhận xét sự hình thành và phát triển năng lực; từ đó động viên, khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn, phát huy ưu điểm và các năng lực riêng, điều chỉnh hoạt động để tiến bộ. Hàng tháng, giáo viên thông qua quá trình quan sát, ý kiến trao đổi với cha mẹ học sinh và những người khác (nếu có) để nhận xét học sinh, ghi vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục.

Đánh giá thường xuyên sự hình thành và phát triển phẩm chất của học sinh

Các phẩm chất của học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm cuộc sống trong và ngoài nhà trường. Giáo viên đánh giá mức độ hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh thông qua các biểu hiện hoặc hành vi như sau:

a) Chăm học, chăm làm, tích cực tham gia hoạt động giáo dục: đi học đều, đúng giờ; thường xuyên trao đổi nội dung học tập, hoạt động giáo dục với bạn, thầy giáo, cô giáo và người khác; chăm làm việc nhà giúp đỡ cha mẹ; tích cực tham gia các hoạt động, phong trào học tập, lao động và hoạt động nghệ thuật, thể thao ở trường và ở địa phương; tích cực tham gia và vận động các bạn cùng tham gia giữ gìn vệ sinh, làm đẹp trường lớp, nơi ở và nơi công cộng;

b) Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm: mạnh dạn khi thực hiện nhiệm vụ học tập, trình bày ý kiến cá nhân; nhận làm việc vừa sức mình; tự chịu trách nhiệm về các việc làm, không đổ lỗi cho người khác khi mình làm chưa đúng; sẵn sàng nhận lỗi khi làm sai;

c) Trung thực, kỉ luật, đoàn kết: nói thật, nói đúng về sự việc; không nói dối, không nói sai về người khác; tôn trọng lời hứa, giữ lời hứa; thực hiện nghiêm túc quy định về học tập; không lấy những gì không phải của mình; biết bảo vệ của công; giúp đỡ, tôn trọng mọi người; quý trọng người lao động; nhường nhịn bạn;

d) Yêu gia đình, bạn và những người khác; yêu trường, lớp, quê hương, đất nước: quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh em; kính trọng người lớn, biết ơn thầy giáo, cô giáo; yêu thương, giúp đỡ bạn; tích cực tham gia hoạt động tập thể, hoạt động xây dựng trường, lớp; bảo vệ của công, giữ gìn và bảo vệ môi trường; tự hào về người thân trong gia đình, thầy giáo, cô giáo, nhà trường và quê hương; thích tìm hiểu về các địa danh, nhân vật nổi tiếng ở địa phương.

Hàng ngày, hàng tuần, giáo viên quan sát các biểu hiện trong các hoạt động của học sinh để nhận xét sự hình thành và phát triển phẩm chất; từ đó động viên, khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn, phát huy ưu điểm và các phẩm chất riêng, điều chỉnh hoạt động, ứng xử kịp thời để tiến bộ. Hàng tháng, giáo viên thông qua quá trình quan sát, ý kiến trao đổi với cha mẹ học sinh và những người khác (nếu có) để nhận xét học sinh, ghi vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục.

2. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH24 số 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ………

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÀI THU HOẠCHBỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊNModule TH24: Đánh giá kết quả học tập ở tiểu học

Năm học: …………..

Họ và tên: ………………………………………………………………………………………………….

Đơn vị: ……………………………………………………………………………………………………..

I. Một số khái niệm cơ bản

1. Kiểm tra

Là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá.

1.1. Kiểm tra định tính

Là phương thức thu thập thông tin về kết quả học tập và rèn luyện của học sinh bằng cách quan sát và ghi nhận xét dựa theo các tiêu chí giáo dục đã định.

1.2. Kiểm tra định lượng

Là phương thức thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh bằng số như điểm số hoặc số lần thực hiện của những hoạt động nào đó.

Cách và phương tiện ghi nhận kết quả học tập của học sinh bằng điểm hay số lần thực hiện theo những quy tắc đã tính trong kiểm tra là mang tính chất định lượng. Điểm số vẫn chỉ là những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ học lực của mỗi học sinh mang ý nghĩa định tính. Bản thân điểm số không có ý nghĩa về mặt định lượng. Ví dụ: Không thể nói trình độ của học sinh đạt điểm 8 là cao gấp đôi học sinh đạt điểm 4 (thang điểm 10).

2. Đánh giá kết quả học tập

Là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ và phẩm chất của người học, hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra.

Đánh giá kết quả học tập được hiểu là đánh giá học sinh về học lực và hạnh kiểm thông qua quá trình học tập các môn học cũng như các hoạt động khác trong phạm vi của nhà trường.

3. Đo lường

Chỉ việc ghi nhận và mô tả kết quả làm bài kiểm tra của mỗi học sinh bằng một số đo, dựa trên những quy tắc đã định.

4. Lượng giá

Là đưa ra những thông tin ước lượng trình độ kiến thức, kĩ năng của người học bằng cách dựa vào các số đo đã có.

– Lượng giá theo chuẩn: So sánh tương đối kết quả đo lường được với chuẩn chung của một tập hợp học sinh.

– Lượng giá theo tiêu chí: Là đối chiếu kết quả đo lường được với những tiêu chí đã đề ra.

5. Trắc nghiệm

Là công cụ hoặc quy trình có tính hệ thống được dùng để đo lường các hành vi học tập (ví dụ như tóm ý, giải thích, tính toán)

II. Chức năng của đánh giá kết quả học tập ở tiểu học

1. Chức năng quản lí

Thể hiện qua hai phương diện đó là: (1) Xếp loại hoặc tuyển chọn người học; (2) duy trì và phát triển chuẩn chất lượng.

2. Chức năng kiểm soát và điều chỉnh hoạt động dạy và học

Đối với giáo viên và nhà trường, đánh giá nhằm kiểm soát các hoạt động ngay trong quá trình dạy và học, sau đó ra quyết định điều chỉnh, cải tiến dạy học là cơ chế đảm bảo cho việc phát triển chất lượng dạy học.

Đối với học sinh, thông tin kiểm tra đánh giá nhận được (điểm số, nhận xét) từ giáo viên và tự đánh giá của bản thân giúp người học kiểm soát, điều chỉnh việc học của mình.

3. Chức năng giáo dục và phát triển người học

Động viên: Quá trình đánh giá kết quả học tập được thực hiện một cách hiệu quả sẽ có tác dụng phát triển động cơ học tập (lòng mong muốn học tập cho sự phát triển của bản thân) cho học sinh.

=> Hoạt động kiểm tra phải thực hiện thường xuyên và thông tin làm căn cứ cho đánh giá phải đa dạng, cụ thể và khách quan.Đánh giá góp phần phát triển toàn diện để chuẩn bị cho người học vào đời: Muốn việc đánh giá có thể góp phần phát triển toàn diện cho người học cần phải thực hiện một cách hệ thống và nhất quán những vấn đề sau:

=> Đánh giá phải xác định được khối lượng học tập hợp lí cho học sinh để không đẩy các em vào thế học thuộc lòng, học đối phó, học chỉ để có điểm, chỉ để biết chứ không để hiểu và áp dụng.

=> Kết quả học tập cần được đánh giá một cách hiệu quả, đáng tin cậy để có tác dụng hướng dẫn và khuyến khích các phương pháp học tập tích cực, ủng hộ các thói quen học tập có giá trị.

=> Phương pháp, công cụ kiểm tra đánh giá cần đa dạng (trắc nghiệm, tự luận, học nhóm, trò chơi, bài tập giải quyết vấn đề, làm đề án…) để kích thích người học tự bổ sung, phát triển những kiến thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống cũng như cho nghề nghiệp về sau.

Ngoài các kĩ năng học tập, đánh giá cũng góp phần phát triển cho người học những kĩ năng và phẩm chất xã hội như: kĩ năng giao tiếp, làm việc hợp tác, ý thức cộng đồng, lòng tự trọng…Đây là những nhân tố quan trọng đối với con người trong xã hội hiện nay, giúp cho học sinh biết cách sống, cách làm việc với những người xung quanh.

III. Ý nghĩa của đánh giá kết quả học tập ở tiểu học.

1. Đối với học sinh

Việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành thường xuyên, có hệ thống sẽ giúp học sinh:

Có hiểu biết kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” bên trong. Điều chỉnh hoạt động học tập của chính mình. Điều trình bày trên được thể hiện ở ba mặt sau:

– Về mặt giáo dưỡng

Việc kiểm tra, đánh giá giúp các em học sinh thấy được:

  • Tiếp thu bài học ở mức độ nào?
  • Cần phải bổ khuyết những gì?
  • Có cơ hội nắm chắc những yêu cầu của từng phần trong chương trình học tập.

– Về mặt phát triển

Thông qua việc kiểm tra, đánh giá, học sinh có điều kiện để tiến hành các hoạt động trí tuệ như:

  • Ghi nhớ
  • Tái hiện
  • Chính xác hóa
  • Khái quát hóa
  • Hệ thống hóa
  • Hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xão vận dụng tri thức đã học
  • Phát triển năng lực chú ý
  • Phát triển năng lực tư duy sáng tạo.

Như vậy, nếu việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành tốt nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học giải quyết những tình huống thực tế.

– Về mặt giáo dục

Kiểm tra, đánh giá nếu được tổ chức tốt sẽ mang ý nghĩa giáo dục đáng kể. Việc kiểm tra, đánh giá tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh:

Hình thành nhu cầu, thói quen tự kiểm tra, đánh giá, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập và ý chí vươn tới những kết quả học tập ngày càng cao, đề phòng và khắc phục tư tưởng sai trái như “trung bình chủ nghĩa”, tư tưởng đối phó với thi cử; nâng cao ý thức kỷ luật tự giác, không có thái độ và hành động sai trái với thi cử. Củng cố được tính kiên định, lòng tự tin vào sức lực khả năng của mình, đề phòng và khắc phục được tính ỷ lại, tính tự kiêu, tự mãn, chủ quan; phát huy được tính độc lập sáng tạo, tránh được chủ nghĩa hình thức, máy móc trong kiểm tra.

Nâng cao ý thức tập thể, tạo được dư luận lành mạnh, đấu tranh với những tư tưởng sai trái trong kiểm tra, đánh giá, tăng cường được mối quan hệ thầy trò…

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định: Việc kiểm tra, đánh giá học sinh có các tác dụng đối với học sinh như sau:

Giúp học sinh phát hiện và điều chỉnh thực trạng hoạt động học tập.

Củng cố và phát triển trí tuệ cho các em. Giáo dục cho học sinh một số phẩm chất đạo đức nhất định.

2. Đối với giáo viên

Việc kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ giúp cho người giáo viên những “thông tin ngược ngoài”, từ đó có sự điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp. Cụ thể như sau:

– Kiểm tra, đánh giá, kết hợp theo dõi thường xuyên các em tạo điều kiện cho người giáo viên:

Nắm được cụ thể và tương đối chính xác trình độ năng lực của từng học sinh trong lớp do mình giảng dạy hoặc giáo dục, từ đó có những biện pháp giúp đỡ thích hợp, trước là đối với học sinh khá giỏi và học sinh yếu kém, qua đó mà năng cao chất lượng học tập chung của cả lớp.

– Kiểm tra, đánh giá được tiến hành tốt sẽ giúp giáo viên nắm được:

Trình độ chung của cả lớp hoặc khối lớp Những học sinh có tiến bộ rõ rệt hoặc sa sút đột ngột. Qua đó, động viên hoặc giúp đỡ kịp thời các em này.

– Kiểm tra, đánh giá tạo cơ hội cho thầy giáo xem xét có hiệu quả những việc làm sau:

Cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà người giáo viên đang tiến hành. Hoàn thiện việc dạy học của mình bằng con đường nghiên cứu khoa học giáo dục.

3. Đối với cán bộ quản lý giáo dục

Kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ cung cấp cho cán bộ quản lý giáo dục các cấp những thông tin cần thiết về thực trạng dạy- học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những sai lệch nếu có; khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Qua phần trình bày trên, có thể khẳng định: Kiểm tra, đánh giá học sinh có ý nghĩa về nhiều mặt, trong đó quan trọng nhất vẫn là đối với chính bản thân từng em học sinh.

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục đào tạo trong mục biểu mẫu nhé.

  • Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên theo Thông tư 17
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH44
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH45

Tham khảo thêm

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH17 Bài thu hoạch BDTX module TH17 cấp tiểu học
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH22 Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH22 Bài thu hoạch BDTX module TH22 cấp tiểu học
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH21 Bài thu hoạch BDTX module TH21 cấp tiểu học

10 Công thức Detox thanh lọc cơ thể dễ làm

Detox là một trong những phương pháp thanh lọc cơ thể cực kỳ hiệu quả được áp dụng khá phổ biến hiện nay. Có rất nhiều công thức detox đơn giản có thể dễ dàng thực hiện tại nhà. Sau khi thành thạo, bạn còn có thể tự sáng chế những công thức dành riêng cho bản thân với hương vị độc đáo.

Những công thức chứa các thành phần như chanh giúp đẩy các chất độc hại ra khỏi cơ thể, bạc hà hỗ trợ tiêu hóa, dưa leo có đặc tính chống viêm và gừng là một vị thuốc giảm đau tự nhiên và giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn. Bạn có thể tham khảo một vài công thức dưới đây:

Mục lục

  • 1 1. Giảm béo (Chanh – dưa chuột – bưởi)
  • 2 2. Detox dâu tây và kiwi
  • 3 3. Detox Táo và quế
  • 4 4. Detox dâu và dưa hấu
  • 5 5. Detox đốt mỡ
  • 6 6. Detox chanh và dưa leo
  • 7 7. Chanh và gừng
  • 8 8. Detox làm sạch thận
  • 9 9. Detox từ mía và dứa
  • 10 10. Detox dưa hấu

1. Giảm béo (Chanh – dưa chuột – bưởi)

Loại nước detox tuyệt vời này không chỉ giúp cơ thể thải độc mà còn giúp giảm béo hiệu quả.

Công thức như sau: : 2l nước suối (nước lọc) + 1/2 trái bưởi (tách vỏ) + 1/2 trái dưa leo (thái lát) + 1/2 trái chanh xanh (thái lát) + 1/2 trái chanh vàng (thái lát) + vài lá bạc hà.

Dưa leo với công dụng lợi tiểu có thể giúp bạn tránh giữ nước. Chanh giúp đào thải độc tố từ đường tiêu hóa và bưởi giúp bạn đốt cháy chất béo hiệu quả.

Bạn có thể cho vào tủ lạnh khoảng vài giờ trước khi dùng. Mỗi ngày nên uống ít nhất 2 lít để đạt hiệu quả tối ưu nhất.

Detox từ Chanh - dưa chuột - bưởi giúp thải độc và giảm béo hiểu quả
Detox từ Chanh – dưa chuột – bưởi giúp thải độc và giảm béo hiệu quả

2. Detox dâu tây và kiwi

Công thức này cực kỳ đơn giản và dên thực hiện, bạn chỉ cần dâu tây và kiwi cắt lát với 2 lít nước lọc, sau đó cho vào tủ lạnh vài giờ đồng hồ cho thấm là có thể dùng được.

Kiwi có chứa rất nhiều vitamin A và E sẽ giúp bạn chống lại các gốc tự do và hỗ trợ thải ra độc tố ra khỏi ruột già. Dâu tây là loại trái cây tuyệt vời cho làn da của bạn vì nó có chứa các đặc tính chống lão hóa giúp làn da luôn căng mịn, đặc biệt dâu tây còn được biết đến với công dụng giúp chống lại ung thư.

Detox từ Dâu tây và Kiwi giúp chống lão hóa và ung thư
Detox từ Dâu tây và Kiwi giúp chống lão hóa và ung thư

3. Detox Táo và quế

Công thức từ táo và quế không chỉ ngon, không có calo mà còn giúp thải độc tố hiệu quả. Cách làm cực đơn giản, bạn chỉ việc cắt lát mỏng táo cho vào nước cùng với một thanh quế.

Bạn có thể cho thêm đá để uống nếu không muốn bỏ vào tủ lạnh.

4. Detox dâu và dưa hấu

Công thức từ trái dâu và dưa hấu này sẽ đem đến cho bạn một làn da đẹp vì nó chứa rất nhiều vitamin và các chất chống viêm.

Để thực hiện bạn cần: Một vài cành hương thảo tươi, một chút muối và nguyên liệu qua trọng để làm loại detox là một chén dâu tây đã cắt lát, hai chén dưa hấu cắt miếng nhỏ, sau đó cho nước lọc vào. Khuấy đều một chút rồi cho vào tủ lạnh vài giờ cho thấm.

5. Detox đốt mỡ

Không chỉ có công dụng đào thải độc tố mà loại nước detox này còn giúp bạn giảm được vài cân nhờ công dụng kiềm chế sự thèm ăn, đốt mỡ, ngoài ra nó còn giúp làn da bạn đẹp hơn.

Công thức thực hiện như sau : Cho 3l nước lọc, 2 thìa dấm táo, 1 muỗng canh nước cốt chanh tươi, 1 muỗng cafe quế vào máy xay xay 10s, sau đó cắt lát mỏng nửa quả táo cho vào rồi uống.

6. Detox chanh và dưa leo

Cách làm như sau: 8 ly nước lọc, 1 quả dưa leo cắt lát, 1 quả chanh cắt lát và khoảng 10 lá bạc hà. Cho tất cả vào bình lớn và để qua đêm trong tủ lạnh. Đây là một thức uống ngon và đem lại rất nhiều lợi ích:

Detox từ Chanh và dưa leo giúp giải độc và hỗ trợ hệ tiêu hóa
Detox từ Chanh và dưa leo giúp giải độc và hỗ trợ hệ tiêu hóa

+ Chanh hỗ trợ hệ miễn dịch và giúp cơ thể thải độc tố ra ngoài.

+ Dưa leo chứa chất chống viêm và giúp cơ thể đủ nước.

+ Bạc hà hỗ trợ hệ tiêu hóa và làm tăng thêm hương vị.

7. Chanh và gừng

Chanh và gừng là những nguyên liệu có sẵn trong căn bếp của mỗi gia đình để thực hiện loại detox đơn giản này bạn chỉ cần chuẩn bị như sau: 3 lít nước lọc, vắt nửa quả chanh vào, nhớ bỏ hạt. Sau đó nạo một ít gừng tươi vào.

Chanh và gừng là thực sự thức uống tuyệt vời vào buổi sáng vì nó giúp giảm đau và thải độc tố ra khỏi cơ thể cả ngày. Gừng từ lâu đã biết đến là một vị thuốc giảm đau tự nhiên, vì thế nước detox có gừng có tính giải độc rất tốt.

Detox từ chanh và gừng giúp giảm đau và thải độc cơ thể
Detox từ chanh và gừng giúp giảm đau và thải độc cơ thể

8. Detox làm sạch thận

Loại thức uống này này sẽ giúp bạn làm sạch thận, hết chướng bụng và đẹp da hơn.

Cần có: 2l nước lọc, nửa quả chanh vàng cắt lát, nửa quả chanh xanh cắt lát, nửa quả bưởi cắt lát (có thể thay thế bằng một quả cam hoặc thêm nửa quả cam vào), 1 trái dưa leo cắt lát (giữ nguyên vỏ), 1 muỗng gừng tươi xắt nhỏ và một nắm bạc hà tươi.

Cho tất cả vào một bình thủy tinh và để trong tủ lạnh vài giờ trước khi uống. Sau 24h thì không được dùng nữa mà nên làm cái mới để đảm bảo an toàn.

9. Detox từ mía và dứa

Bạn cần chuẩn bị vài lít nước lọc, vài miếng dứa tươi, vài miếng mía nhỏ. Cho tất cả các nguyên liệu vào bình và thêm đá, sau đó cất để trong tủ lạnh vài giờ trước khi uống. Detox loại này càng để lâu hương vị càng thơm ngon.

Công thức detox từ mía và dứa sẽ giúp cơ thể bạn chống lại các gốc tự do.

10. Detox dưa hấu

Dưa hấu chứa rất nhiều vitamin và khoáng chất, giúp cơ thể thải độc, ngoài ra còn có hương vị thơm ngon.

Những gì bạn cần chuẩn bị cho loại nước này chỉ là nước lọc và dưa hấu cắt lát (bỏ hạt), để trong tủ lạnh ít nhất một giờ trước khi thưởng thức. Công thức này rất dễ thực hiện mà lại vô cùng hiệu quả.

Quý khách vui lòng liên hệ Hotline 024 7307 8999 để được tư vấn và hỗ trợ nhanh nhất!

Xem thêm:

    • Muốn eo thon gọn sau sinh thì ghi nhớ 7 công thức sau
    • Điểm danh những thói quen cần có của phụ nữ trên 30 tuổi
    • Lá tía tô mang lại nhiều công dụng tuyệt vời

Vì sao bạn nên chọn Vietlife Phòng khám đạt chuẩn quốc tế Đội ngũ bác sĩ là Phó giáo sư, Tiến sĩ đầu ngành Chi phí khám bệnh chỉ từ 300.000 vnđ Đăng ký tư vấn khám chữa bệnh Dịch vụKhám cơ xương khớpKhám tiêu hóa – nội soi tiêu hóaKhám thần kinh cột sốngKhám chấn thương thể thaoKhám nội tổng quátKhám tai mũi họngKhám sản phụ khoaKhám nhi khoaXét nghiệmChụp cộng hưởng từChụp X-QuangSiêu âmĐo mật độ xươngPhục hồi chức năngTiêm chủngKhác Địa chỉ khámHà Nội: Số 14 Trần Bình Trọng, Hoàn KiếmTP HCM: Số 583 Sư Vạn Hạnh, P.13, Q.10 Giờ08:00 am08:30 am09:00 am09:30 am10:00 am10:30 am11:00 am11:30 am12:00 pm12:30 pm13:00 pm13:30 pm14:00 pm14:30 pm15:00 pm15:30 pm16:00 pm16:30 pm17:00 pm17:30 pm18:00 pm18:30 pm19:00 pm19:30 pm20:00 pm20:30 pm21:00 pm21:30 pm22:00 pm

Báo cáo thành tích đề nghị tặng thưởng tập thể 2022

Mẫu báo cáo thành tích tập thể đề nghị tặng thưởng Tải về Bản in

Mời các bạn tham khảo bản Báo cáo thành tích đề nghị tặng thưởng Huân chương, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Cờ thi đua của Chính phủ; Cờ thi đua và Bằng khen cấp Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương áp dụng cho tập thể có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tập thể xuất sắc. Cũng giống như mẫu Báo cáo thành tích cá nhân, bạn đọc tải mẫu báo cáo thành tích tập thể và điền đầy đủ thông tin về tập thể và thành tích đã đạt được.

Báo cáo thành tích sẽ do người đứng đầu tập thể, đại diện tập thể lập ra và gửi cho cơ quan cấp trên có thẩm quyền. Mẫu thường lập ra vào dịp cuối năm, nội dung mẫu báo cáo thành tích thường ghi lại những thành tựu, những công trình, những cống hiến cụ thể của tập thể cho tổ chức và từ đó đề nghị xem xét khen thưởng cho tập thể.

  • Báo cáo thành tích cá nhân

Báo cáo thành tích tập thể năm 2021

  • 1. Báo cáo thành tích tập thể là gì?
  • 2. Báo cáo thành tích đề nghị tặng thưởng tập thể năm 2021
  • 3. Cách viết báo cáo thành tích đề nghị khen thưởng

1. Báo cáo thành tích tập thể là gì?

Báo cáo thành tích đề nghị tặng thưởng (áp dụng cho tập thể) là mẫu bản báo cáo được lập ra để báo cáo về thành tích mà tập thể đạt được trong thời gian vừa qua đề nghị tặng thưởng cho tập thể. Mẫu nêu rõ thành tích của tập thể, thông tin của tập thể…

  • Bản khai tóm tắt thành tích cá nhân, đề nghị tặng thưởng
  • Biểu điểm đánh giá thành tích nhân viên
  • Bản khai thành tích hoạt động của cán bộ công đoàn
  • Mẫu báo cáo thành tích cá nhân công tác mặt trận

2. Báo cáo thành tích đề nghị tặng thưởng tập thể năm 2021

ĐƠN VỊ CẤP TRÊN——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc —————

Tỉnh (thành phố), ngày…… tháng……. năm……..

BÁO CÁO THÀNH TÍCHĐỀ NGHỊ KHEN………2

(Mẫu báo cáo này áp dụng đối với tập thể)

Tên tập thể đề nghị

(Ghi đầy đủ bằng chữ in thường, không viết tắt)

I. SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH

1. Đặc điểm, tình hình:

– Địa điểm trụ sở chính, điện thoại, fax; địa chỉ trang tin điện tử;

– Quá trình thành lập và phát triển;

– Những đặc điểm chính của đơn vị, địa phương (về điều kiện tự nhiên, xã hội, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất), các tổ chức đảng, đoàn thể3.

2. Chức năng, nhiệm vụ: Chức năng, nhiệm vụ được giao.

II. THÀNH TÍCH ĐẠT ĐƯỢC

1. Báo cáo thành tích căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cơ quan (đơn vị) và đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng quy định tại Luật thi đua, khen thưởng, Nghị định số ngày tháng năm 201…. của Chính phủ.

Nội dung báo cáo nêu rõ những thành tích xuất sắc trong việc thực hiện các chỉ tiêu (nhiệm vụ) cụ thể về năng suất, chất lượng, hiệu quả công tác so với các năm trước (hoặc so với lần khen thưởng trước đây); việc đổi mới công tác quản lý, cải cách hành chính; sáng kiến, kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu khoa học và việc ứng dụng vào thực tiễn đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội đối với bộ, ban, ngành, địa phương và cả nước4.

2. Những biện pháp hoặc nguyên nhân đạt được thành tích; các phong trào thi đua đã được áp dụng trong thực tiễn sản xuất, công tác.

3. Việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước5.

4. Hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể6.

III. CÁC HÌNH THỨC ĐÃ ĐƯỢC KHEN THƯỞNG7

1. Danh hiệu thi đua;

Năm

Danh hiệu thi đua

Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận danh hiệu thi đua; cơ quan ban hành quyết định

2. Hình thức khen thưởng:

Năm

Hình thc khen thưởng

Số, ngày, tháng, năm của quyết định khen thưởng; cơ quan ban hành quyết định

XÁC NHẬN CỦA CẤP TRÌNHKHEN THƯỞNG(Ký, đóng dấu)

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ(Ký, đóng dấu)

3. Cách viết báo cáo thành tích đề nghị khen thưởng

1 Báo cáo thành tích 25 năm trước thời điểm đề nghị đối với Huân chương Sao vàng, 10 năm đối với Huân chương Hồ Chí Minh, 10 năm đối với Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công, 05 năm đối với Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, Huân chương Lao động; 05 năm đối với Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 01 năm đối với Cờ thi đua của Chính phủ, Cờ thi đua cấp Bộ, cấp tỉnh và Giấy khen; 01 năm đối với Tập thể lao động xuất sắc và Bằng khen cấp Bộ, cấp tỉnh.

2 Ghi rõ hình thức đề nghị khen thưởng.

3 Đối với đơn vị sản xuất, kinh doanh cần nêu tình hình tài chính: Tổng số vốn cố định, lưu động; nguồn vốn (ngân sách, tự có, vay ngân hàng…).

4 Tùy theo hình thức đề nghị khen thưởng, nêu các tiêu chí cơ bản trong việc, thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị (có so sánh với năm trước hoặc 03 năm, 05 năm trước thời điểm đề nghị), ví dụ:

– Đối với đơn vị sản xuất, kinh doanh lập bảng thống kê so sánh các tiêu chí: Giá trị tổng sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, nộp ngân sách, đầu tư tái sản xuất, thu nhập bình quân; các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học (giá trị làm lợi); phúc lợi xã hội; thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động… việc thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước; đảm bảo môi trường, an toàn vệ sinh lao động, an toàn vệ sinh thực phẩm (có trích lục và nội dung xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).

– Đối với trường học: Lập bảng thống kê so sánh các tiêu chí: Tổng số học sinh, hạnh kiểm và kết quả học tập; số học sinh giỏi cấp trường, cấp huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), cấp tỉnh (thành phố thuộc Trung ương), cấp quốc gia; số giáo viên giỏi các cấp; số đề tài nghiên cứu,…

– Đối với bệnh viện: Lập bảng thống kê so sánh các tiêu chí: Tổng số người khám, chữa bệnh; tổng số người được điều trị nội, ngoại trú; tổng số giường bệnh đưa vào sử dụng; số người được khám, điều trị bệnh, chữa bệnh miễn phí; số đề tài nghiên cứu khoa học, các sáng kiến, áp dụng khoa học (giá trị làm lợi về kinh tế, xã hội…).

5 Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; chăm lo đời sống cán bộ, nhân viên; hoạt động xã hội, từ thiện…

6 Công tác xây dựng đảng, đoàn thể: Nêu vai trò, kết quả hoạt động và xếp loại của tổ chức đảng, đoàn thể (kèm theo giấy chứng nhận hoặc quyết định công nhận).

7 Nêu các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng đã được Đảng, Nhà nước, bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tặng hoặc phong tặng (ghi rõ số quyết định, ngày, tháng, năm ký quyết định).

Trên đây TTTD.VN đã gửi tới các bạn Báo cáo thành tích đề nghị tặng thưởng tập thể năm 2021 cùng hướng dẫn cách viết chi tiết. Qua đó, các cơ quan, doanh nghiệp tham khảo nhằm viết cho mình một bản báo cáo đầy đủ ý nghĩa.

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục thủ tục hành chính trong mục biểu mẫu nhé.

Hướng dẫn cách viết báo cáo học việc, thử việc

Cách viết báo cáo kết quả thử việc Tải về

Mẫu báo cáo kết quả thử việc

Báo cáo kết quả học việc, thử việc là mẫu báo cáo đánh giá kết quả sau quá trình làm việc của ứng viên tại công ty mới, đây là tiền đề để công ty xem xét xem ứng viên có phù hợp với vị trí công việc hay không. Vậy làm sao để viết được một bản báo cáo kết quả đầy đủ và chính xác, mời các bạn tham khảo bài viết sau đây.

Hợp đồng thử việc

Mẫu quyết định lương thử việc

Mẫu bản kiểm điểm trong thời gian thử việc

Trước tiên như tên gọi, thì nội dung chính của bản báo cáo kết quả thử việc sẽ phản ánh kết quả trong thời gian mà bạn đã học việc, thử việc tại công ty. Từ đó để bạn có thể tự đánh giá năng lực của mình, rút ra được những kinh nghiệm trong quá trình làm việc, bên cạnh đó còn đưa ra những đề xuất, ý kiến cho công việc. Nếu như một bản báo cáo kết quả học việc, thử việc đúng chuẩn, đầy đủ thì trưởng bộ phận sẽ xem xét, đánh giá và quyết định đến khả năng ký hợp đồng làm việc với bạn hay không.

Nội dung cơ bản của Mẫu báo cáo kết quả thử việc như sau:

Mẫu số 1:

Cách viết báo cáo kết quả thử việc

Mẫu số 2:

Hướng dẫn viết báo cáo kết quả thử việc

Cách viết báo cáo kết quả thử việc:

– Đây là form mẫu đầu tiên chúng tôi muốn gửi đến cho các bạn. Như có thể nhìn thấy, ở góc trên cùng bên trái bạn sẽ đề tên công ty mà bạn học việc, thử việc. Và ở góc bên phải đối diện, bạn sẽ ghi “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ….”

– Tiếp theo, bạn sẽ cách khoảng 2 dòng, tại đây bạn sẽ ghi in hoa và in đậm “BÁO CÁO KẾT QUẢ THỬ VIỆC” (tên bản báo cáo bạn muốn nộp)

– Dòng tiếp theo “Kính gửi”: Ở đây bạn sẽ cần phải xác định những thành phần quan trọng, chủ chốt nhất của công ty, đó là: Ban lãnh đạo công ty, Trưởng phòng Hành chính quản trị, Trưởng phòng (ban) nơi làm việc của bạn, … (Lưu ý cũng in đậm phần này nhé)

Như vậy là đã ổn được phần đầu, bây giờ sẽ tới phần giới thiệu bản thân của bạn nhé.

– Ở phần công việc được giao trong quá trình thử việc, bạn lưu ý nên ghi vào công việc chính của bạn. Kết quả hoàn thành, tất nhiên phải luôn đạt tốt. Những nội dung này rất quan trọng, bởi dựa vào đây phía Ban lãnh đạo công ty cũng như trưởng phòng hành chính sẽ đưa ra các quyết định có nên tiếp tục thuê bạn làm việc hay không.

– Về phần tự đánh giá, ý kiến đề nghị, bên cạnh việc nêu các ưu điểm, bạn cũng nên ghi vào khoảng 1 – 2 điểm hạn chế và xin hứa sẽ khắc phục. Nếu như trong thời gian làm việc, bạn cảm thấy năng lực của mình có thể phát huy mạnh hơn nữa ở nhiều vị trí chủ chốt khác thì có thể đề xuất ý kiến.

– Một điểm cũng cần lưu ý, quan trọng không kém đó chính là chữ ký. Qua nét chữ ký, người ta có thể đánh giá được tính cách của bạn đấy.

Báo cáo kiểm điểm vai trò lãnh đạo chỉ đạo của chi bộ

Báo cáo kiểm điểm cuối năm Tải về

TTTD.VN mời các bạn tham khảo mẫu báo cáo kiểm điểm vai trò lãnh đạo chỉ đạo của chi bộ năm 2020 trong bài viết này. Đây là mẫu báo cáo kiểm điểm cuối năm của chi bộ.

Cuối năm là thời gian các chi bộ gấp rút thực hiện công tác đánh giá phân loại chất lượng Đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo các tổ chức, cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc việc kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm. Dưới đây là mẫu báo cáo kiểm điểm vai trò lãnh đạo cuối năm của chi bộ. Mời các bạn cùng tham khảo.

Báo cáo kiểm điểm vai trò lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ

  • 1. Báo cáo kiểm điểm vai trò lãnh đạo chỉ đạo số 1
  • 2. Báo cáo kiểm điểm vai trò lãnh đạo chỉ đạo số 2

1. Báo cáo kiểm điểm vai trò lãnh đạo chỉ đạo số 1

ĐẢNG UỶ ………………

CHI BỘ ………………………

Số :……………………..

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

……………, ngày … tháng 12 năm 20…

BÁO CÁO

KIỂM ĐIỂM VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CHỈ ĐẠO CỦA CHI BỘ

……………….. NĂM 20…

I.- VỀ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ :

1/Quán triệt các chủ trương, chính sách trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch và giải pháp thực hiện nhiệm vụ:

Với vai trò lãnh đạo địa phương, Ban chấp hành – Ban thường vụ luôn quán triệt sâu sắc những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra. Các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Huyện ủy đều căn cứ vào nội dung chỉ đạo của cấp trên, luôn bám sát nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện. Trong từng giai đọan, với từng nội dung và giải pháp cụ thể đều nhất quán với quan điểm “sát tình hình thực tế, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân” nên tạo được sự thống nhất cao trong toàn Đảng bộ và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của quần chúng nhân dân.

Trong nhiệm kỳ, Ban chấp hành – Ban thường vụ đã tập trung lãnh đạo thực hiện 5 chương trình trọng điểm về kinh tế-xã hội có tính bao quát mà Đại hội Đảng bộ huyện đề ra; tổ chức thực hiện nhiệm vụ Xây dựng Đảng theo đúng chỉ đạo của cấp trên bằng việc xây dựng các nghị quyết, chương trình hành động, các kế hoạch theo từng chuyên đề của các hội nghị Trung ương và Thành ủy. Trong thực tế điều hành, để kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, phát sinh trong quá trình thực tế triển khai, Ban chấp hành – Ban thường vụ đã nghiên cứu và đề ra các nghị quyết để lãnh đạo thực hiện xuyên suốt như : nhiệm vụ quốc phòng – an ninh, phổ cập giáo dục bậc trung học, quy hoạch sử dụng đất, chăm lo phát triển nhà ở, chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác vận động quần chúng, đầu tư phát triển các xã và thị trấn v.v… Trong nhiệm kỳ, Ban chấp hành – Ban thường vụ đã ban hành 33 nghị quyết, 66 kế hoạch, 9 chỉ thị, 34 thông tri, 7 chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Trung ương, Thành phố. Những văn bản chỉ đạo này đã và đang thực hiện có hiệu quả ở cơ sở.

Song song với sự tự lực vươn lên, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của huyện, Ban thường vụ đã mạnh dạn đề xuất Thành phố chấp thuận và quyết định được nhiều chính sách quan trọng có tính đột phá để giải quyết những khó khăn trước mắt và tạo ra những tiền đề cho quá trình phát triển huyện như: tăng mức tiền công giữ rừng lên 6 lần, có chính sách bù giá tiêu thụ muối, bù giá vận chuyển nước sạch, hỗ trợ lãi vay ưu đãi cho người sản xuất, mua rừng trồng tự túc của dân bổ sung vào quỹ rừng của Khu Dự trử sinh quyển thế giới, thực hiện chương trình đầu tư hạ tầng cho 5 xã nghèo, nâng cấp mở rộng đường và xây cầu mới trên tuyến đường Rừng Sác, quyết định đầu tư nhiều công trình lớn, trọng điểm phục vụ an sinh xã hội và phúc lợi công cộng; Đồng thời, thực hiện điều chỉnh quy hoạch tổng thể và các quy hoạch chi tiết, quy hoạch phát triển vùng nuôi thủy sản, vùng muối, khu bảo tồn thiên nhiên, khu du lịch sinh thái quốc gia, các dự án dân cư – du lịch – nhà vườn ven biển… Ngoài ra, để hỗ trợ cho nhiệm vụ cải cách hành chính, phát huy hiệu quả của cơ quan tham mưu ở những lĩnh vực chủ yếu, làm tiền đề thúc đẩy sự phát triển toàn diện của huyện, trong nhiệm kỳ đã được Thành phố chấp thuận thành lập Trung tâm Dịch vụ hành chính nhà-đất, Trung tâm Giao dịch thủy sản và Ban quản lý Khu du lịch 30/4.

2/ Kết quả đạt được:

+ Trên lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh:

Với sự lãnh đạo tập trung và bằng nhiều biện pháp nêu trên, kinh tế – xã hội của huyện đạt được nhiều chuyển biến tích cực, làm thay đổi bộ mặt đời sống của người dân, tạo ra nền tảng ban đầu cho sự phát triển của huyện trong thời gian tới. Sản xuất tiếp tục tăng trưởng cao liên tiếp trong 5 năm qua, tính đến giữa năm 2005, nhiều chỉ tiêu cơ bản đề ra từ đầu nhiệm kỳ đã đạt và vượt, trong đó nổi bật nhất là tổng giá trị sản xuất tăng bình quân 41%/năm (gấp 3 lần chỉ tiêu), tổng giá trị tăng thêm (GDP) tăng bình quân 31,15% (gấp 2 lần chỉ tiêu), thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 2,5 lần, hoàn thành giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn giai đoạn 1 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở hoàn thành vào năm 2003, mặt bằng học vấn dân cư đạt 7,5. Dự kiến đến cuối năm 2005 sẽ đạt và vượt hầu hết các chỉ tiêu do Đại hội đề ra và các chỉ tiêu mới bổ sung.

Nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và công tác quân sự địa phương được Huyện ủy chỉ đạo thường xuyên, đảm bảo việc xây dựng và huấn luyện lực lượng thường trực, quân dự bị và dân quân tự vệ, hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân hàng năm. Lực lượng Công an nhân dân luôn chủ động làm tốt công tác tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện các kế hoạch nhằm đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn kịp thời các vụ việc liên quan đến an ninh quốc gia, không để xảy ra bất ngờ và những điểm nóng về chính trị, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc tiếp tục được phát huy góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Với những kết quả đạt được, đối chiếu với kiểm điểm giữa nhiệm kỳ vào cuối năm 2003, cho thấy Huyện ủy đã tập trung khắc phục, sửa chữa những hạn chế, thiếu sót, tồn tại, cụ thể như: Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã đa dạng chủng loài thủy sản nuôi trồng (có trên 10 loài), nghề nuôi tôm đã thực hiện các giải pháp về cải tạo môi trường, con giống, khởi công các công trình thủy lợi, mở rộng ứng dụng nhiều mô hình mới trong sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp; Công tác quản lý đất đai, đô thị đi dần vào nề nếp; Việc quản lý, đầu tư phát triển văn hóa được chú trọng; Lĩnh vực giáo dục được tập trung nhiều nguồn lực để thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, chất lượng giáo dục nhiều chuyển biến tích cực; An ninh trật tự được giữ vững, không có tụ điểm ma túy, mại dâm; Nỗ lực chăm lo cho hộ nghèo về sản xuất, việc làm, nhà ở, đến cuối năm 2003 toàn huyện cơ bản không còn hộ nghèo dưới 2,5 triệu.

+ Trên lĩnh vực xây dựng Đảng và vận động quần chúng:

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã được Ban chấp hành – Ban thường vụ chỉ đạo thực hiện tốt, các nghị quyết đều được triển khai quán triệt đầy đủ đến từng đảng viên, có theo dõi quá trình học tập và chuyển biến sau học tập. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ hàng năm, thường xuyên mở các lớp lý luận chính trị, nghiệp vụ cho nhiều đối tượng. Trong công tác tổ chức, việc quản lý cán bộ, đảng viên được thực hiện khá tốt trong toàn Đảng bộ, bố trí lại sinh hoạt Đảng đối với đảng viên ngành dọc đang công tác trên địa bàn xã, thị trấn, giới thiệu đảng viên về sinh hoạt nơi cư trú, định kỳ phân tích chất lượng đảng viên theo quy trình chặt chẽ. Công tác cán bộ được Ban thường vụ quan tâm lãnh đạo, vận dụng ngày càng tốt hơn các nguyên tắc và phương pháp của công tác cán bộ, việc quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ theo đúng quy định, quy trình, đảm bảo dân chủ, bố trí cán bộ phù hợp với chuyên môn, năng lực, phần lớn đều phát huy tốt tại các đơn vị mới; Đội ngũ cán bộ được quan tâm ngày càng tốt hơn về mọi mặt, Ban thường vụ đã ban hành các chính sách trợ cấp cho cán bộ công tác ở nơi khó khăn, chính sách đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ nữ và trợ cấp cho các chức danh không chuyên trách trong bộ máy chính quyền xã – thị trấn, các đoàn thể chính trị – xã hội ở khu phố, ấp. Trong nhiệm kỳ, công tác kiểm tra luôn được tăng cường, hoạt động của Ủy ban Kiểm tra đã chủ động và kịp thời hơn, nội dung có đi vào chiều sâu; công tác đấu tranh chống tham nhũng, chống lãng phí và thực hành tiết kiệm đã được triển khai trong toàn huyện nhiều năm qua và trong hai năm cuối của nhiệm kỳ công tác này càng được tập trung đẩy mạnh qua việc củng cố, tăng cường hoạt động của Ban Chỉ đạo TW 6 (2), cụ thể hóa Chỉ thị 15 của Ban thường vụ Thành ủy thành những tiêu chí cụ thể, làm rõ trách nhiệm của đảng viên trên từng mặt công tác, gắn trách nhiệm của đảng viên trong sinh hoạt chi bộ dựa trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Công tác vận động quần chúng đã được Ban chấp hành – Ban thường vụ quan tâm lãnh đạo trên cả hai phương diện điều kiện hoạt động và tổ chức bộ máy. Mặt trận và các đoàn thể làm tốt công tác xã hội, chăm lo gia đình chính sách, hộ nghèo và đoàn viên – hội viên, tham gia nòng cốt trong các cuộc vận động xã hội và đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn.

Với những biện pháp chỉ đạo tập trung trong nhiệm kỳ qua, công tác Xây dựng Đảng luôn được xem là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Huyện ủy, nhờ đó đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được thực hiện tốt làm cho nhận thức của cán bộ, đảng viên được nâng lên; Vai trò lãnh đạo của các cấp ủy cơ sở luôn được củng cố do đó đã không để xảy ra tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng, nguyên tắc tập trung dân chủ được thực thi tốt hơn tác động tích cực đến khối đoàn kết, gắn bó của Đảng bộ. Công tác phát triển Đảng đã vượt chỉ tiêu đề ra, trong nhiệm kỳ kết nạp được 376/250 đảng viên mới, đạt 150,4%; số cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh tăng hàng năm, năm sau cao hơn năm trước(năm 2001 : 29/40, năm 2002 : 33/40, năm 2003: 34/42, năm 2004: 32/43) đặc biệt không có cơ sở Đảng yếu kém nhiều năm liền, có một Đảng bộ cơ sở nhận cờ thi đua và 6 chi, đảng bộ nhận bằng khen cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh 5 năm liền của Ban thường vụ Thành ủy. Số lượng Đảng viên được biểu dương, khen thưởng hàng năm chiếm tỉ lệ cao đồng thời cũng đúng thực chất hơn (năm 2002 : 268, năm 2003: 166, năm 2004 : 191).

Những khuyết điểm nêu trong kiểm điểm giữa nhiệm kỳ vào cuối năm 2003 đến nay đã được khắc phục sửa chữa trong hai năm cuối của nhiệm kỳ, cụ thể như : Công tác cán bộ đảm bảo được yêu cầu về luân chuyển, tăng cường, củng cố, đào tạo thực tiễn cho cán bộ trẻ; chính sách cán bộ có nhiều thay đổi, bổ sung, chăm lo tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ – công chức yên tâm công tác, học tập; kết nạp đảng viên mới đã chú trọng phát triển được 61 đảng viên ở địa bàn dân cư (đoàn thể ấp, hội viên nông dân, tổ trưởng tổ nhân dân,…). Đoàn thanh niên và Hội nông dân được quan tâm sâu sát hơn, bước đầu củng cố kiện toàn nhân sự, đề ra một số chính sách và xác lập cơ chế hỗ trợ với tổ chức Đoàn, Hội Nông dân cấp trên, các nội dung đang triển khai có hiệu quả. Trật tự kỷ cương có chuyển biến đáng kể thông qua việc tổ chức thực hiện Chỉ thị 06 và Quy định 428 của Ban thường vụ Thành ủy.

II.- VỀ CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH :

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban chấp hành đã xây dựng Quy chế làm việc của Ban chấp hành – Ban thường vụ, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cá nhân, tập thể, từ đó đến nay luôn được thực hiện nghiêm túc. Các Uỷ viên Ban chấp hành tham gia đầy đủ các kỳ họp, một vài kỳ họp tuy có vắng nhưng số lượng không nhiều, các đồng chí Ủy viên Ban chấp hành luôn thể hiện trách nhiệm trong tham gia lãnh đạo tập thể, hầu hết đều có ý kiến góp ý xây dựng nội dung lãnh đạo, tùy vấn đề gắn với chuyên môn thì có ý kiến sâu; Ban thường vụ sinh hoạt định kỳ một tháng hai lần, nội dung chủ yếu tham mưu Ban chấp hành quyết định các chủ trương, chính sách để thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ, ngoài lĩnh vực phụ trách, từng ủy viên Ban thường vụ được phân công phụ trách địa bàn xã, thị trấn qua đó tạo nên sự gắn bó trên dưới, thấu hiểu cơ sở, nắm rõ thực tiển để tham mưu giải quyết kịp thời. Nguyên tắc tập trung dân chủ đã được Ban chấp hành – Ban thường vụ tuân thủ triệt để, các quyết định của Ban thường vụ Huyện ủy về chỉ đạo, điều hành hoặc trình ra Ban chấp hành đều được thảo luận, bàn bạc dân chủ, vai trò của người đứng đầu thể hiện rõ trong quá trình thảo luận, các quyết định cá nhân đưa ra có sự cân nhắc trước các ý kiến góp ý, đồng thời cũng phân tích sâu và mạnh dạn quyết định những vấn đề đang còn tranh luận.

Ban chấp hành – Ban thường vụ đã thể hiện tính năng động, nhạy bén trong lãnh đạo, xác định được trọng tâm, trọng điểm những vấn đề cần chỉ đạo, để đề ra những chủ trương kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế như: việc ban hành những Nghị quyết về đầu tư phát triển cho từng xã, thị trấn, đề ra chủ trương đa dạng hóa vật nuôi, xây dựng các chương trình hỗ trợ sản xuất đối với nghề nuôi trồng thủy sản, các chính sách khai thác sử dụng đất, miễn giảm thuế cho các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại v.v… Việc tháo gỡ khó khăn ngoài thẩm quyền, Ban chấp hành – Ban thường vụ không đặt mình trong thế bị động, trông chờ sự lãnh đạo của cấp trên mà luôn chủ động nghiên cứu, đánh giá tình hình, đề ra nội dung, bước đi thích hợp, kiến nghị, đề xuất lãnh đạo Thành phố quyết định đầu tư, hỗ trợ cơ chế, chính sách đã góp phần mang lại hiệu quả và lợi ích thiết thực cho nhân dân, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư vào địa bàn Cần Giờ trong 5 năm qua và những năm sắp tới.

Trong điều hành, Ban chấp hành – Ban thường vụ tiến hành xây dựng chương trình làm việc năm, quý, tháng, tuần; luôn chú trọng mối quan hệ lãnh đạo, đoàn kết thống nhất giữa Thường trực huyện ủy – Thường trực HĐND – UBND huyện và thường trực UBMTTQ, duy trì chế độ giao ban hàng tuần giúp cho việc nắm tình hình, chỉ đạo, điều hành sâu sát và kịp thời hơn. Bên cạnh đó, còn thường xuyên chỉ đạo kiểm tra, sơ, tổng kết các nội dung chỉ đạo; đồng thời hàng năm Ban thường vụ đề ra chương trình kiểm tra ở những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm nhằm chấn chỉnh những yếu kém tồn tại, khắc phục những trì trệ, khó khăn, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển. Trong nhiệm kỳ (tính đến tháng 9/2005), Ban chấp hành có 29 phiên họp, trong đó có 7 phiên họp bất thường, 22 phiên họp định kỳ; Ban thường vụ có 129 cuộc họp; chất lượng các kỳ họp từng bước được nâng lên, không khí sinh hoạt dân chủ ngày càng rõ nét.

Về lĩnh vực chỉ đạo, điều hành, trong hai năm cuối nhiệm kỳ đã được Ban chấp hành – Ban thường vụ khắc phục những hạn chế đã nêu trong kiểm điểm giữa nhiệm kỳ, đó là vai trò của người đứng đầu, việc triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch, tháo gỡ khó khăn cho cơ sở. Tổ chức các đoàn đi cơ sở, trực tiếp nắm tình hình và giải quyết ngay tại cơ sở là nét nổi bật về cải tiến lề lối làm việc, đổi mới phong cách lãnh đạo của Thường trực và các đồng chí ủy viên Ban thường vụ Huyện ủy, qua các đợt công tác trực tiếp, việc chỉ đạo của Ban thường vụ khá sâu sát và phù hợp với thực tế, nhờ đó xác định được những vấn đề bức xúc cần làm ngay, giúp cơ sở giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, đồng thời những việc trì trệ do liên quan nhiều ngành, nhiều cấp cũng được tháo gỡ.

III.- VỀ ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG :

Huyện ủy cùng với các cấp ủy cơ sở đã triển khai quán triệt nghiêm túc các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Thành ủy và Huyện ủy về thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (2) khóa VIII “ về một số vấn đề cơ bản cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay” trong đó nhấn mạnh vấn đề đấu tranh chống suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Khi được quán triệt, đại đa số cán bộ, đảng viên đều thể hiện thái độ đồng tình, nhiều nơi chủ động thảo luận giải pháp thực hiện gắn liền với cuộc vận động thực hiện “3 xây, 3 chống “ theo tinh thần Chỉ thị 15 của Ban thường vụ Thành ủy, ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tính gương mẫu trong lối sống và tự giác chấp hành pháp luật luôn được đề cao; Xây dựng đạo đức lối sống của cán bộ đảng viên có ý nghĩa quan trọng đối với nhiệm vụ chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, 5 năm qua Huyện ủy thường xuyên chỉ đạo các tổ chức Đảng tăng cường công tác giáo dục và kiểm tra nội bộ kết hợp với thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt chi bộ, đã góp phần giữ gìn trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng bộ máy hành chính lành mạnh, cũng cố và nâng cao lòng tin trong nhân dân.

Ban chấp hành – Ban thường vụ với vai trò lãnh đạo của mình đã thể hiện tính gương mẫu, coi trọng việc tu dưỡng, giữ gìn phẩm, chất đạo đức cách mạng, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Trong nhiệm kỳ, Ban chấp hành – Ban thường vụ đã lãnh đạo triển khai thực hiện tốt các quy định của Đảng như quy định 19 điều đảng viên không được làm, quy định 76 về đảng viên giữ mối liên hệ nơi cư trú và các chỉ thị, quy định của Thành ủy có liên quan đến trách nhiệm của cá nhân cán bộ, đảng viên, qua đó có sự tác động tích cực đến nhận thức và hành động trong đội ngũ cán bộ; đại đa số đảng viên thể hiện tốt vai trò của mình, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lý tưởng cách mạng, nòng cốt tham gia công tác xã hội, gương mẫu chấp hành pháp luật và các quy định của địa phương, tích cực tham gia sinh hoạt tại nơi cư trú và được nhận xét tốt.

Trong nhiệm kỳ, có 1 đồng chí ủy viên Ban thường vụ bị kỷ luật ở mức cảnh cáo do sai phạm về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thời điểm năm 1994 – 1995 khi đồng chí này là Chủ tịch UBND xã, Bí thư Đảng ủy xã; sự việc đã được Ban chấp hành – Ban thường vụ tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, cá nhân sai phạm cũng thấy được trách nhiệm của bản thân; tập thể Ban thường vụ huyện ủy, Thường trực UBND huyện cũng đã tự kiểm điểm, nhận trách nhiệm và nghiêm khắc chấn chỉnh công tác quản lý cán bộ, quản lý nhà nước trên lĩnh vực đất đai và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.

Trong nhiệm kỳ, tổng số đảng viên bị kỷ luật là 56 đồng chí, gồm: khiển trách 37 đồng chí, cảnh cáo 14 đồng chí, cách chức 1 đồng chí, khai trừ 4 đồng chí. Trong đó : vi phạm đạo đức lối sống (3), thiếu ý thức tổ chức kỷ luật (8), sử dụng văn bằng chứng chỉ không hợp pháp (17), vi phạm lợi dụng chức vụ quyền hạn (2), vi phạm nguyên tắc tài chính (12), vi phạm chính sách kế hoạch hóa gia đình (8), mất thẻ Đảng (2), vi phạm nguyên tắc sinh hoạt Đảng (3) và thiếu trách nhiệm trong công tác (1); Khiển trách một chi bộ do sai phạm sử dụng ngân sách tài chính. Việc xử lý đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng có sự cân nhắc thận trọng, luôn thực hiện đúng qui định, không có tình trạng bao che, giảm nhẹ hoặc tăng nặng.

IV.- NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG KHẮC PHỤC :

Trong 5 năm qua, Ban chấp hành – Ban thường vụ đã thể hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển huyện. Mặc dù có nhiều nỗ lực và từng bước cải tiến phương thức để nâng cao chất lượng lãnh đạo, điều hành, luôn nghiêm túc khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm trong từng thời kỳ nhưng do nhiều nguyên nhân nên vẫn còn những tồn tại, hạn chế.

1/ Những tồn tại, hạn chế đó là :

– Cơ cấu hai ngành thủy sản và du lịch sinh thái chưa phát huy vai trò chủ lực để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của huyện theo mục tiêu kế hoạch 2001 – 2005. Nuôi trồng thủy sản chưa có hướng giải quyết căn bản về môi trường, dịch bệnh, con giống, các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất thực hiện chậm, tình trạng lạm sát nguồn lợi thủy sản chưa giảm. Quy hoạch chưa đồng bộ, quản lý, sử dụng đất đai, xây dựng chưa chặt chẽ, chậm cải tiến thủ tục, quy trình thực hiện các dự án đầu tư; Không sử dụng hết vốn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm được thành phố bố trí theo nhu cầu của địa phương, còn tình trạng đầu tư dàn trãi, thiếu tập trung, nhiều công trình xây dựng kéo dài, chậm khởi công, chất lượng công trình chưa đạt.

– Công tác lãnh đạo, quản lý trên lĩnh vực văn hóa chưa được đầu tư đúng mức, thiếu giải pháp tích cực, đột phá để “xây” nền tảng văn hóa tinh thần; Giảm hộ nghèo, giải quyết việc làm thiếu căn cơ, quản lý, sử dụng quỹ xóa đói giảm nghèo còn lỏng lẻo để vi phạm nguyên tắc quản lý vốn tại thị trấn Cần Thạnh, phát sinh tiêu cực, chiếm dụng vốn của cán bộ chuyên trách ở xã Thạnh An, Bình Khánh; chất lượng giáo dục chưa thật sự yên tâm, hiệu suất đào tạo, hướng nghiệp cho học sinh hiệu quả chưa thật sự sâu sắc, chưa khắc phục được tình trạng học sinh bỏ học ở các lớp cuối cấp, kết quả các kỳ thi tốt nghịêp cấp 2, 3 qua các năm tỷ lệ không ổn định.

– Hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức ở một vài đơn vị trọng điểm chưa đáp ứng yêu cầu, trình độ học vấn, chuyên môn của cán bộ xã, thị trấn còn thấp nhưng chậm củng cố, tăng cường; Trật tự kỷ cương, kỷ luật hành chính còn lỏng lẻo, công tác cải cách thủ tục hành chính chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với cán bộ, đảng viên, đối với các quyết định hành chính của nhà nước thiếu quyết liệt và chưa rốt ráo, hồ sơ giải quyết khiếu nại còn tồn đọng khá lớn. Một số nghị quyết chuyên đề về đầu tư phát triển xã, thị trấn chưa được triển khai đồng bộ, vai trò tham mưu của các cơ quan chuyên môn cấp huyện chưa tích cực, thiếu sâu sát.

– Công tác vận động quần chúng tuy được quan tâm lãnh đạo nhưng chưa thật sự đi vào chiều sâu trong việc xây dựng lực lượng nòng cốt chính trị, đổi mới phương thức hoạt động, trình độ cán bộ một số đoàn thể còn hạn chế, nghị quyết chăm lo xây dựng Đoàn thanh niên triển khai thực hiện kết quả đạt chưa cao. Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện các chủ trương lớn có liên quan đến lợi ích chung và lợi ích của nhân dân chưa hiệu quả nên phát sinh tình trạng khiếu kiện đông người, khiếu nại dây dưa ở các dự án đầu tư xây dựng công trình công ích, dự án phát triển kinh tế.

Nguyên nhân những tồn tại, hạn chế :

– Những tồn tại, hạn chế trên có những vấn đề Ban chấp hành- Ban thường vụ nắm được tình hình, có đề ra giải pháp thực hiện nhưng hiệu quả không cao, do chưa chỉ đạo tập trung, thiếu cương quyết, thiếu kiểm tra, đôn đốc, chưa có biện pháp thúc đẩy các cấp, các ngành chủ động triển khai thực hiện, trong thời gian dài vẫn còn tình trạng cơ sở thụ động, trong chờ vào cấp trên. Chương trình, nghị quyết trong nhiệm kỳ đã được ban hành nhiều nhưng thiếu bộ phận tham mưu phối hợp, triển khai và đeo bám thực hiện nên việc đánh giá tình hình, tiến độ kết quả triển khai không sâu sát, hiện tượng đùn đẩy là còn, mạnh ai nấy làm là có, vai trò chỉ huy không rõ, do đó khi đi vào giải quyết công việc yếu tố trách nhiệm chưa được đề cập một cách thẳn thắng và đầy đủ.

– Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được thực hiện ngày càng tốt hơn; Tuy nhiên, khâu bố trí, luân chuyển cán bộ còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu đòi hỏi của thực tế tình hình và mục tiêu lãnh đạo, quản lý. Nhiều trường hợp thiếu kiên quyết, chưa dứt khoát thay đổi những cán bộ yếu kém, trì trệ. Hàng năm đều có tổ chức đánh giá cán bộ nhưng các tiêu chí làm căn cứ đánh giá chưa thật sự gắn với công tác bố trí, nếu có chủ yếu phục vụ cho công tác bổ nhiệm. Ở đây có nguyên nhân khách quan, là từ điểm xuất phát về trình độ văn hóa, chuyên môn của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ xã, thị trấn những năm trước đây còn thấp nên việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ chưa đáp ứng kịp yêu cầu, từ đó trong bố trí và luân chuyển cán bộ trên – dưới còn khó khăn, nhất là ở những đơn vị chuyên ngành quản lý, kỹ thuật đòi hỏi phải có chuyên môn hoặc yêu cầu cán bộ của cấp cơ sở phải toàn diện.

– Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ chú trọng trong cán bộ, đảng viên nhưng chưa phát động thành phong trào mạnh mẽ, khơi dậy sự hưởng ứng sâu rộng trong toàn thể nhân dân, tạo thành cơ chế gián tiếp giúp Đảng trong công tác lãnh đạo, điều hành thực hiện chủ trương, trong giám sát, đánh giá cán bộ. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở chưa thật sự bài bản, chưa chú trọng quy trình công khai nội dung, yếu tố bàn bạc với dân khi xây dựng chính sách còn đi sau, xem nhẹ, cơ chế hỗ trợ của nhà nước cho đoàn thể đứng ra tổ chức vận động nhân dân thực hiện chương trình dự án chưa được nghiên cứu đầy đủ; Quan trọng nhất chính là cán bộ cơ sở chưa được tạo điều kiện đúng mức để nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng công tác, thực tế đời sống còn khó khăn, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền vận động nhân dân tại khu phố, ấp; Đồng thời, cơ chế thông tin phục vụ công tác vận động giữa chính quyền và các đoàn thể hay ngay trong hệ thống đoàn thể chưa đảm bảo xuyên suốt, kịp thời, đầy đủ.

2/ Phương hướng khắc phục :

– Tập trung lãnh đạo để nâng cao chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ưu tiên đầu tư phát triển 2 ngành kinh tế chủ lực của huyện là thủy sản và dịch vụ du lịch sinh thái. Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi để đề xuất thành phố ban hành áp dụng tại huyện làm cơ sở cho việc mời gọi đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi về đất đai, giải quyết thủ tục hành chính “một cửa” cho các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên. Triển khai nhanh hoạt động của các trại giống, hoàn thành các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất, phát triển Hội Nghề cá, Câu lạc bộ Khuyến nông, quản lý môi trường vùng nuôi thủy sản bền vững, thực hiện các giải pháp đã đề ra nhằm giảm thiểu tình trạng lạm sát nguồn lợi thủy sản. Nổ lực phát triển ngành nghề mới trên cơ sở khai thác tốt tiềm năng đất đai, mặt nước, môi trường cảnh quan sẳn có, khuyến khích nhân dân đầu tư vốn mở rộng sản xuất – kinh doanh; Tích cực thực hiện các chương trình hỗ trợ về xúc tiến thủ tục hành chính theo hướng nhanh, gọn, các chính sách về đất đai, vốn, giống, thuế, tiêu thụ sản phẩm làm động lực ban đầu khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư trên địa bàn. Nghiên cứu hình thành các cơ sở chế biến sản phẩm đặc sản mang thương hiệu Cần Giờ. Quán triệt sâu sắc các quan điểm phát triển sự nghiệp giáo dục, chăm lo người nghèo là nhiệm vụ của tòan Đảng bộ; Tập trung mọi nguồn lực và các biện pháp đồng bộ thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra.

– Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trong 5 năm tới, cần phải tiến hành đồng thời 4 giải pháp để khắc phục những hạn chế đã nêu trong nhiệm kỳ; Trước hết kiện toàn bộ máy của cơ quan điều hành dự án, nâng cao chất lượng quản lý thông qua đánh giá hiệu quả của cán bộ phụ trách từng dự án; Nghiên cứu xây dựng một số chính sách, cơ chế hỗ trợ đối với công tác quản lý, đối với các nhà đầu tư, đối với đơn vị thi công các công trình xây dựng trên địa bàn; Tăng cường giám sát hiệu quả đầu tư từ khâu lập dự án đến thi công ( đặc biệt là tiến độ, chất lượng công trình ), phát huy vai trò của đại diện nhân dân dân trong giám sát đầu tư theo qui chế dân chủ cơ sở; Tăng cường công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tranh thủ huy động sự đóng góp của nhân dân cho các công trình công cộng, phúc lợi xã hội. Ngoài ra, nhiệm vụ cho 5 năm tới cần phải tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật trọng điểm, chương trình nhà ở, cải thiện môi trường sống trong cộng đồng dân cư tiếp tục tăng cường lập lại trật tự, kỷ cương, chấp hành pháp luật trong cán bộ, đảng viên và nhân dân trên lĩnh vực quản lý đô thị, đất đai.

– Đẩy mạnh công tác chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Nâng cao vai trò, lãnh đạo, quản lý của cấp ủy và chính quyền cơ sở; chủ động hơn trong việc xúc tiến đầu tư, phát triển kinh tế, ổn định xã hội trên địa bàn. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chỉ thị 06, Quy định 428 của Ban thường vụ Thành ủy; Đẩy mạnh hoạt động của Ban Chỉ đạo trung ương 6(2) làm đầu mối thực hiện chỉ đạo của Ban thường vụ Huyện ủy trong thực hiện Chỉ thị 15 của Ban thường vụ Thành ủy, trong việc chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo của đảng viên và quần chúng nhân dân. Tăng cường công tác kiểm tra trên mọi lĩnh vực, kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm về trật tự kỷ cương, kỷ luật hành chính, kỷ luật Đảng.

– Chú trọng đi sâu lãnh đạo tổ chức thực hiện những nghị quyết, chương trình, kế hoạch, duy trì thường xuyên lãnh đạo cấp ủy, chính quyền đi thực tế tại cơ sở; tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của Ủy viên Thường vụ, ủy viên Ban chấp hành trong công tác kiểm tra, chỉ đạo tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn ngay tại cơ sở trong quá trình triển khai những chủ trương, biện pháp của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện. Việc chỉ đạo, điều hành thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội cần phân công trách nhiệm cá nhân, các nhóm phụ trách, nghiên cứu cải tiến cơ chế tổ chức điều hành chương trình, dự án theo hướng tập trung, chuyên môn hóa.

– Tiếp tục củng cố bộ máy quản lý Nhà nước, kịp thời bổ sung, thay thế cán bộ yếu trình độ, năng lực, kém phẩm chất, đạo đức để đảm bảo công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, trước hết là cán bộ tham mưu thuộc các phòng ban chuyên môn của Ủy ban nhân dân. Lãnh đạo thực hiện tốt công tác quy hoạch các chức danh, đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, bồi dưỡng lý luận chính trị, thực hiện luân chuyển, bố trí cán bộ, chú trọng việc bổ nhiệm cán bộ trẻ, nữ (đủ tiêu chuẩn) giữ vai trò lãnh đạo, quan tâm bố trí cán bộ giỏi, có chuyên môn phù hợp tham gia vào Ban thường vụ các đoàn thể. Tăng cường chính sách đào tạo cán bộ, chú trọng đào tạo cán bộ từ học sinh cấp 3, có kế hoạch đào tạo cán bộ chuyên trách đoàn thể cơ sở và nhất là cán bộ chuyên môn kỹ thuật đảm bảo đáp ứng yêu cầu của chức danh công chức trong bộ máy hành chính xã, thị trấn.

– Quan tâm lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể đổi mới tư duy, sáng tạo trong hoạt động của mình; định hướng hoạt động phù hợp với giới, đối tượng và xác định thế mạnh của từng đoàn thể để phát huy, nhất là việc giao thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất của huyện; thiết lập cơ chế thông tin giữa chính quyền – đoàn thể và trong hệ thống các đoàn thể; tiếp tục có chính sách đối với cán bộ đoàn thể ở cơ sở, chú trọng hơn đến chất lượng hoạt động của chi, tổ hội, xây dựng lực lượng nòng cốt chính trị, nòng cốt phong trào. Đặc biệt quan trọng là phải phát huy tối đa mối quan hệ giữa nhà nước, mặt trận, đoàn thể và nhân dân thông qua việc thực hiện qui chế dân chủ cơ sở, tiếp tục nghiên cứu các chính sách, phương thức hoạt động để phát huy vai trò của Trưởng ban ấp, khu phố, tổ trưởng nhân dân, tổ dân phố trong việc phổ biến, tuyên truyền, vận động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật Nhà nước, phát huy vai trò giám sát của quần chúng nhân dân đối với mọi hoạt động của các cấp ủy Đảng và cơ quan Nhà nước trên địa bàn một cách hiệu quả.

2. Báo cáo kiểm điểm vai trò lãnh đạo chỉ đạo số 2

ĐẢNG UỶ ………………

CHI BỘ ………………………

Số :……………………..

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

……………, ngày … tháng 12 năm 20…

BÁO CÁO

KIỂM ĐIỂM VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CHỈ ĐẠO CỦA CHI BỘ

……………….. NĂM 20…

Căn cứ kế hoạch số ………….. ngày …/…/20… của huyện ủy ………….. về việc kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên năm 20…

Căn cứ hướng dẫn số ………… ngày …/…/20… của Ban tổ chức huyện Ủy …………… về quy trình kiểm điểm tổ chức đảng và đảng viên năm 20…

Căn cứ vào tình hình hoạt động, vai trò lãnh chỉ đạo của chi bộ trong năm 20… Nay chi bộ …………….. xây dựng báo cáo kiểm điểm đánh giá tình hình hoạt động của chi bộ năm 20… với các nội dung như sau:

KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH

Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy xã ……….. và lãnh đạo ngành cấp trên, chi bộ nhà trường đã đi vào hoạt động có hiệu quả. Tập thể chi bộ luôn đoàn kết, phấn đấu thực hiện tốt vai trò nhiệm vụ người đảng viên, chấp hành nghiêm chỉnh cương lĩnh và điều lệ đảng quy định. Đội ngũ đảng viên và cán bộ nhà trường có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đạt chuẩn và trên chuẩn, đáp ứng được nhiệm vụ giáo dục so với yêu cầu của xã hội hiện nay.

Cơ sở vật chất trường lớp, bàn ghế, trang thiết bị dạy học cơ bản đã được trang bị, phục vụ tốt công tác giáo dục trong nhà trường và địa phương.

Các tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội và nhân dân địa phương đã tích cực hỗ trợ, động viên tinh thần học tập, lao động, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở nhà trường.

Tổng số Đảng viên đến cuối năm 20… là … Đảng viên. Trong đó:

Đảng viên chính thức là: … đ/c.

Đảng viên Nữ là: … đ/c.

Đảng viên là người dân tộc: … đ/c.

Về tình hình đội ngũ và cán bộ quản lý gồm có: … đ/c. Trong đó: CBQL: …; GV: …; CNV: …

Về tổ chức chính trị xã hội và các đoàn thể bao gồm: Công đoàn, Đoàn TN, Đội TN TP Hồ chí Minh, chi hội chữ thập đỏ, chi hội khuyến học.

Các tổ chức chính trị xã hội và đoàn thể hoạt động vững mạnh, có tác dụng hiệu quả rõ rệt trong công tác phát triển sự nghiệp giáo dục nhà trường.

Phần 1: KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

I-Kiểm điểm việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm.

Chi bộ thường xuyên sinh hoạt, quán triệt tới đội ngũ và Đảng viên nhận thức sâu rộng và đúng đắn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, cụ thể là: Quán triệt tinh thần nghị quyết của Đảng các cấp; Quy chế hoạt động của chi bộ, vai trò lãnh chỉ đạo của chi bộ đối với nhà trường và các tổ chức đoàn thể; Triển khai các chỉ thị, các văn bản qui phạm pháp luật tới đội ngũ và đảng viên.

Triển khai thực hiện có hiệu quả tinh thần thực hiện Nghị quyết …………. ngày …/…/20… của Đảng bộ ………….. về “Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng năm 20…

Triển khai thực hiện hiện chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/05/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 20 với chuyên đề “Nêu cao tinh thần trách nhiệm, phong cách gương mẫu, nói đi đôi với làm”.

Tập trung thực hiệnkế hoạch số ………….. ngày … tháng … năm 20… của UBND …………….. về kế hoạch thực hiện chương trình hành động số …………… về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, đội ngũ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

Chi bộ tập trung chỉ đạo thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học. Giáo dục phẩm chất và năng lực cho học sinh. xây dựng trường đạt cấp độ 1 về kiểm định chất lượng. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, phát huy sức mạnh “toàn dân tham gia xây dựng và hỗ trợ giáo dục”.

Tập trung chỉ đạo xây dựng các điều kiện đảm bảo quy mô phát triển giáo dục. Xác định mục tiêu và tầm nhìn chiến lược nhà trường để bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và giảng dạy. Tăng cường sử dụng văn bản, giáo án điện tử trong quản lý và dạy học. Xây dựng thư viện học liệu điện tử để giáo viên, học sinh chia sẻ, sử dụng trong dạy và học; trong công tác kiểm tra, đánh giá.

Tham mưu cho địa phương phấn đấu duy trì đạt tiêu chuẩn phổ cập THCS trong năm 2016, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học. Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, khắc phục chất lượng yếu kém,phát huy chất lượng mũi nhọn; bảo đảm chương trình dạy nghề phổ thông; tích cực, làm chuyển biến chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường.

Quán triệt thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng quy định, các điều cấm đối với đảng viên. Việc thực hiện quy chế hoạt động của chi bộ, quy chế làm việc của nhà trường, quy tắc ứng xử trong đơn vị, quy chế hoạt động của các tổ chức đoàn thể. Xây dựng Chi bộ Đảng trong sạch vững mạnh, Công đoàn vững mạnh xuất sắc, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên vững mạnh xuất sắc; Trường đạt cơ quan đơn vị văn hóa.

Tham mưu chính quyền địa phương từng bước xây dựng và bổ sung hoàn thiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phấn đấu nâng cao các tiêu chí trường đạt chuẩn quốc gia.

II- Về lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng:

Chi bộ đã bám sát theo mục tiêu kế hoạch giáo dục của Bộ giáo dục Đào tạo qui định; bám sát theo các văn bản hướng dẫn của Đảng ủy, Phòng giáo dục và cơ quan cấp trên, xây dựng kế hoạch và triển khai kịp thời. Đảm bảo đúng theo chủ trương đường lối chỉ đạo của cấp uỷ Đảng. Nội dung kế hoạch hoạt động đều được thảo luận trong chi bộ, có sự xây dựng ý kiến và nhất trí cao trong tập thể Đảng viên.

Đa số cán bộ giáo viên được triển khai và thực hiện theo chuẩn nghề nghiệp, chấp hành tốt quy chế đánh giá xếp loại đối với học sinh, đảm bảo sự công bằng đối với học sinh, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được học tập hết lớp hết cấp. Thực hiện tốt quy định đối với đạo đức nhà giáo, có tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu cao.

Chi bộ đã tập trung chỉ đạo bộ phận chuyên môn, các tổ chức Đoàn thể xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức đơn vị mình, xây dựng qui chế phối hợp, gắn kết trách nhiệm của từng cá nhân, từng tổ chức Đoàn thể trong vai trò thực hiện nhiệm vụ được giao. Nội bộ cơ quan, đoàn thể đoàn kết, không có đơn thư tố cáo, khiếu nại.

III- Lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

Chi bộ đã xây dựng qui chế làm việc xác định và phân công rõ vai trò nhiệm vụ cho từng Đảng viên, chú trọng công tác bồi dưỡng trình độ lí luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tạo điều kiện để đội ngũ có cơ hội học tập nâng cao trình độ tay nghề.

Tổ chức sinh hoạt chi bộ theo định kỳ, nhằm đánh giá kiểm điểm quá trình hoạt động của chi bộ trong từng tháng. Triển khai kịp thời và nhanh chóng các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và ngành cấp trên, theo dõi và đánh giá chất lượng hoạt động trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn.

Theo dõi chặt chẽ tình hình sinh hoạt, công tác tự phê bình và phê bình của cán bộ đảng viên; phát huy tinh thần dân chủ, thảo luận, bàn bạc và thống nhất trong đảng.

Chăm lo công tác bồi dưỡng và phát triển Đảng viên mới. Trong năm đã làm hồ sơ cho 01 quần chúng ưu tú và giới thiệu 01 quần chúng tham gia học tập nhận thức về đảng.

Triển khai để tất cả cán bộ đảng viên thực hiện xây dựng bản đăng ký học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, có sự phê duyệt của lãnh đạo nhà trường và chi bộ. Tăng cường xây dựng chỉnh đốn đội ngũ, lãnh đạo, bố trí, sắp xếp đội ngũ làm việc theo năng lực, sở trường chuyên môn công tác; ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chi bộ và nhà trường.

IV- Xây dựng chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể.

1. Lãnh đạo nhà trường:

Chi bộ thực hiện lãnh đạo nhà trường bằng chủ trương, nghị quyết và các biện pháp lớn. Chi bộ định hướng công tác nhân sự cho cán bộ quản lý nhà trường, các tổ chức đoàn thể; Công tác dự nguồn cán bộ cho các nhiệm kì.

Chỉ đạo công tác xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục ở nhà trường và địa phương; thực hiện nhiệm vụ theo điều lệ nhà trường. Quan tâm, chăm lo giáo dục học sinh có truyền thống yêu nước, truyền thống tôn sư trọng đạo, giữ gìn văn hoá, bản sắc dân tộc. Thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của người học sinh, tham gia tích cực mọi hoạt động trong và ngoài nhà trường, góp phần lĩnh hội tri thức, văn hoá, nâng cao trình độ dân trí ở địa phương.

Chỉ đạo bộ phận chuyên môn, các đoàn thể phối hợp làm tốt công tác phát triển giáo dục toàn diện; chăm lo giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Tổ chức thăm hỏi động viên kịp thời những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được học tập.

2. Lãnh đạo các tổ chức đoàn thể:

Chi bộ trực tiếp chỉ đạo tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, các tổ chức hội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ vai trò của tổ chức mình; chăm lo đời sống cho đoàn viên, hội viên; động viên đoàn viên, hội viên hăng hái thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục.

Chi bộ tham mưu chỉ đạo các tổ chức đoàn thể đại hội đúng điều lệ quy định, tham mưu về công tác nhân sự theo qui chế tập trung dân chủ. Thực hiện công tác lãnh chỉ đạo công đoàn bằng các chủ chương nghị quyết, luôn chú trọng công tác tập hợp quần chúng và vai trò đoàn kết trong đơn vị.

Chi bộ đã chú trọng đến công tác phát triển đoàn viên, hội viên. Chỉ đạo các tổ chức Đoàn, hội thực hiện tốt các phong trào theo kế hoạch của ngành dọc cấp trên. Hướng dẫn các tổ chức đoàn, hội thực hiện nghiêm túc điều lệ quy định. Chăm lo phát triển đội viên thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.

Chi bộ đã xây dựng được mối đoàn kết trong tập thể cơ quan đơn vị, chỉ đạo và phối hợp tốt các đoàn thể trong nhà trường làm tốt vai trò chức năng của mình. Thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở động viên kịp thời, làm tốt công tác tổ chức, khích lệ được tinh thần, tính tiên phong, đầu tàu gương mẫu của cán bộ đảng viên.

V- Công tác kiểm tra, giám sát.

Chi bộ đã ban hành Quy chế làm việc của cấp mình, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn và chế độ làm việc của đảng viên; phân công đảng viên phụ trách nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và một số nội dung biện pháp thực hiện cho phù hợp với tình hình mới.

Chi bộ đã quán triệt các văn bản, nghị quyết của cấp ủy cấp trên, trong đó có công tác kiểm tra, giám sát như: Chương trình kế hoạch kiểm tra, giám sát của chi bộ năm 2016. Triển khai thực hiện tốt kế hoạch kiểm tra, giám sát theo các yêu cầu, đảm bảo trung thực, thẳng thắn, khách quan.

Các đảng viên được phân công đã tham mưu giúp chi bộ lãnh đạo công tác kiểm tra và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đúng theo đúng quy định của đảng. Công tác góp ý, đã chỉ rõ các ưu khuyết điểm cho đảng viên để tiếp thu, sửa chữa khắc phục.

Qua kiểm tra, giám sát đã đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng gắn với lãnh đạo, thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; kịp thời phê bình, góp ý chấn chỉnh những cá nhân có thiếu sót, khuyết điểm, góp phần thúc đẩy việc hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu nghị quyết của Đảng.

Phần 2. KHUYẾT ĐIỂM, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC.

I. Khuyết điểm, hạn chế.

Công tác nâng cao chất lượng giáo dục chưa hiệu quả, kết quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu chung của toàn xã hội.

Chất lượng đội ngũ còn thấp, năng lực chuyên môn của giáo viên chưa có tính đột phá, chưa có tầm ảnh hưởng trong phạm vi của huyện.

Công tác huy động học sinh trong độ tuổi đến trường đạt thấp.

II. Nguyên nhân.

Do tỷ lệ Đảng viên thấp, chiếm …% của đội ngũ. Các cán bộ giáo viên công nhân viên đã đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm về thực tiễn giảng dạy và giáo dục.

Do đời sống kinh tế nhân dân còn thấp, tỷ lệ học sinh thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo cao; nhiều gia đình học sinh còn gặp khó khăn, chưa có đủ điều kiện tham gia và đáp ứng nhu cầu học tập của con em, nên chất lượng giáo dục còn thấp so với mặt bằng chung trong toàn huyện.

Sự quan tâm thực hiện các chế độ chính sách của các cấp ngành còn chậm. Nhận thức của nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa quan tâm nhiều đến vấn đề giáo dục, nên chưa đáp ứng tốt cho nhu cầu giáo dục hiện nay, dẫn đến tư tưởng đội ngũ chưa yên tâm công tác.

III. Biện pháp khắc phục sửa chữa.

Tiếp tục quán triệt, bồi dưỡng trình độ lí luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ và cán bộ Đảng viên; tham mưu tích cực với ngành cấp trên bồi dưỡng cho đối tượng cán bộ dự nguồn. Phát triển nhân tài ở đảng viên trẻ, Đoàn viên ưu tú, để bồi dưỡng lực lượng nòng cốt kế cận.

Tích cực tham mưu với lãnh đạo chính quyền địa phương về tuyên truyền nhận thức của người dân trong công tác giáo dục. Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất khuôn viên hàng rào, đáp ứng tiêu chuẩn trường học đạt chuẩn quốc gia.

Tiếp tục tham mưu xây dựng mô hình xã hội hóa giáo dục, phát triển trung tâm học tập cộng đồng, phối hợp với hội khuyến học, trung tâm văn hóa xã tổ chức các hình thức câu lạc bộ, vui chơi giải trí để huy động nguồn lực, các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động giáo dục ở nhà trường và địa phương.

Tăng cường chỉ đạo công tác chuyên môn, xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề liên trường để trao đổi kinh nghiệm trong công tác giáo dục và giảng dạy, nâng cao nghiệp vụ tay nghề cho cán bộ giáo viên và đảng viên.

Tích cực phối hợp với chính quyền thôn, buôn; giữ mối quan hệ mật thiết với cấp ủy thôn, buôn trong công tác vận động, huy động học sinh ra lớp.

Phần 3. KIẾN NGHỊ.

  1. Đảng ủy cần quan tâm chỉ đạo các tổ chức, đoàn thể phối hợp với nhà trường trong công tác huy động học sinh ra lớp.
  2. Đảng ủy quan tâm kiến nghị với cấp trên, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất nhà trường đạt chuẩn quốc gia.
  3. Đảng ủy phân bổ thêm chỉ tiêu học nhận thức về đảng, để xây dựng và phát triển chi bộ nhà trường.

Trên đây là báo cáo kiểm điểm vai trò, lãnh chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ trong năm 20… Rất mong được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy xã, sự đóng góp ý kiến của tổ chức đoàn thể và Đảng viên.

Nơi nhận :

– ĐU xã (B/c);

– Các Đảng viên;

– Các Đoàn thể;

– Lưu Chi bộ.

TM. CHI BỘ

BÍ THƯ

Trên đây là mẫu báo cáo kiểm điểm vai trò lãnh đạo chỉ đạo của chi bộ cuối năm TTTD.VN đã chia sẻ đến các bạn.

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục thủ tục hành chính trong mục biểu mẫu nhé.

  • Hướng dẫn 21-HD/BTCTW 2019 về kiểm điểm đánh giá Đảng viên
  • Bản kiểm điểm cá nhân Đảng viên – Mẫu 02-HD KĐ.ĐG 2019
  • Mẫu báo cáo kiểm điểm tập thể 2019 – Mẫu 01-HD KĐ.ĐG 2019

Mẫu giấy xác nhận lương

Xác nhận lương, xác nhận thu nhập là nhu cầu của nhiều cá nhân đang công tác theo kiểu làm công ăn lương tại các đơn vị, tổ chức khác nhau, với nội dung xác nhận mức lương hay thu nhập thực tế hàng tháng, có thể dùng với mục đích làm căn cứ để xin visa, vay vốn ngân hàng, mở thẻ tín dụng, quyết toán thuế thu nhập cá nhân…. Mẫu giấy xác nhận lương là mẫu xác nhận có sẵn, các bạn chỉ cần điền các thông tin được yêu cầu một cách chính xác và trung thực. Một số công ty sẽ có mẫu riêng về xác nhận lương, tuy nhiên nếu không có, bạn có thể tải mẫu này từ taimienphi để sử dụng.

Mẫu 1

mau giay xac nhan luong cua cong ty

giay xac nhan luong cong ty

xac nhan muc luong tai cong ty

Tải mẫu này Tại đây

Mẫu 2

giay xac nhan luong song ngu

Tải mẫu này Tại đây

Mẫu 3

giay xac nhan luong fe credit

Tải mẫu này Tại đây

Mẫu 4

giay xac nhan luong bang tieng anh

mau giay xac nhan luong bang tieng anh

Tải mẫu Tại đây

Mẫu 5

mau giay xac nhan luong cua ngan hang agribank

Tải mẫu này Tại đây

Mẫu 6

giay xac nhan luong cua ngan hang bidv

Tải mẫu này Tại đây

Mẫu 7

giay xac nhan luong cua ngan hang vpbank

Tải mẫu này Tại đây

Trường hợp xin xác nhận lương để xin visa chẳng hạn, đó là thủ một trong những khâu quan trọng để chứng minh tài chính, bởi một số nước yêu cầu hồ sơ xin visa phải có mẫu giấy xác nhận lương hàng tháng hoặc hàng năm, mục đích là để hiểu rõ hơn về thông tin về thời gian công tác, vị trí hiện tại và mức lương. Cụ thể như xin visa đi Nhật Bản, chứng minh tài chính du học Nhật Bản, thường dùng giấy xác nhận thu nhập 2-3 năm gần nhất.

Với trường hợp sử dụng để làm thủ tục vay vốn ngân hàng thì mẫu xác nhận lương chính là tài liệu để ngân hàng đối chiếu với những lời khai trong hồ sơ của bạn, yêu cầu trong mẫu xác nhận phải có chữ ký của thủ trưởng đơn vị.

Mẫu giấy xác nhận lương áp dụng cho các cá nhân làm việc tại các doanh nghiệp nhằm chứng thực mức lương, thu nhập chính xác của bạn là bao nhiêu để làm căn cứ định mức thu nhập cá nhân cũng như xác định việc bạn có phải đóng thuế thu nhập hay không. Ngoài ra mẫu giấy xác nhận lương còn được áp dụng để bạn vay vốn ngân hàng, chỉ cần xác nhận lương 3 tháng gần nhất, có chứng thực của cơ quan nơi bạn làm việc là có thể tiến hành vay vốn ngân hàng.

Mẫu giấy xác nhận lương phải bao gồm một số thông tin đầy đủ như họ tên, hiện đang làm việc ở đâu, bộ phận nào, hợp đồng lao động từ ngày bao nhiêu, mức thu nhập chính, mức thu nhập thêm (nếu có)…Những thông tin này cần phải được liệt kê một cách chính xác để người đứng đầu có thể xác minh và giúp bạn có thể thuận tiện hơn trong quá trình làm thủ tục vay vốn.

download mau giay xac nhan luong

Đối với những người đang có nhu cầu vay vốn ngân hàng thì chỉ cần làm mẫu giấy xác nhận lương trong vòng 3 tháng là cũng có thể vay được vốn ngân hàng, phục vụ cho công việc làm ăn hoặc đơn giản là bạn có công việc nào đó đang cần vay vốn thì cũng có thể thực hiện biểu mẫu này.

Đối với các cá nhân có những thành tích đặc biệt trong công việc có thể làm giấy đề nghị tăng lương mà không cần phải đến khi hết hợp đồng và lãnh đạo sẽ xem xét tính hợp lý trong giấy đề nghị tăng lương để đề xuất mức lương mới cho các cá nhân đó.

Mẫu giấy xác nhận lương là mẫu giấy có nội dung chứng minh về doanh thu, thu nhập thực tế của cá nhân người lao động, thường được sử dụng trong trường hợp xác nhận để vay vốn ngân hàng. Mẫu giấy xác nhận lương này có thể đi kèm với bản sao kê lương, thời gian từ 3 đến 6 tháng, làm cho các thủ tục vay tiền trở nên đơn giản hơn.

Ngoài mẫu giấy xác nhận lương bạn cũng có thể tìm hiểu thêm những mẫu giấy tờ khác như bản tường trình hoặc bản tự kiểm nữa nhé. Những mẫu giấy tờ này cũng rất cần thiết trong cuộc sống. Đối với một số giấy tờ như bản tường trình dùng để trình bày, tường thuật lại một vụ việc nào đó mới xảy ra, nhằm giúp cơ quan chức năng, người có thẩm quyền có thể giải quyết thấu đáo. Ngoài ra còn có bản tự kiểm để bạn tham khảo nữa nhé. Đây cũng là một dạng văn bản thông dụng được dùng trong đời sống hằng ngày nhằm giúp bạn có thể tự nhìn nhận, đánh giá được quá trình hoạt động của mình trong thời gian một năm hoặc ít hơn nữa. Thực chất, mẫu bản tự kiểm dùng để mỗi cá nhân có thể tự đánh giá được mình, đồng thời có phương hướng hơn trong công việc, cuộc sống, học tập, đạt được một cái đích và mục tiêu xa hơn.

Bạn có thể xem thêm giấy giao nhận bản kê khai tài sản, thu nhập được sử dụng khi hai bên đã tiến hành giao nhận bản kê khai thu nhập và tài sản. Người nhận và người giao sẽ đồng thời ký vào giấy giao nhận bản kê khai tài sản, thu nhập, giúp cho mẫu giấy này có hiệu lực cụ thể.