Công bố điểm chuẩn trung cấp CAND năm 2021

  • Chính thức công bố điểm chuẩn vào các trường CAND năm 2021
  • Công bố điểm chuẩn trúng tuyển vào trường CAND đối với nhóm thí sinh diện đặc cách tốt nghiệp
Công bố điểm chuẩn trung cấp CAND năm 2021 -0

1. Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào: mỗi môn thuộc tổ hợp xét tuyển đạt từ 5.0 điểm trở lên, tổng điểm đạt từ 17.75 điểm trở lên.

2. Điểm xét tuyển là tổng điểm của 03 môn thuộc tổ hợp xét tuyển vào trường CAND và điểm trung bình cộng kết quả học tập 3 năm THPT lớp 10, 11, 12 được quy về thang điểm 30 làm tròn đến 2 chữ số thập phân cộng với điểm ưu tiên khu vực, ưu tiên đối tượng theo quy chế của Bộ GD&ĐT, điểm thưởng theo quy định của BCA. Công thức tính như sau:

ĐXT = ((M1+M2+M3)+(L10+L11+L12)/3)x3/4+KV+ĐT+ĐTh, trong đó:

+ ĐXT: điểm xét tuyển

+ M1, M2, M3: điểm 3 môn thuộc tổ hợp môn xét tuyển vào trường CAND

+ L10, L11, L12: điểm tổng kết 03 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12

+ KV: điểm ưu tiên khu vực theo quy chế của Bộ GD&ĐT (KV1 được cộng 0.75 điểm, KV2NT được cộng 0.5 điểm, KV2 được cộng 0.25 điểm, KV3 được cộng 0 điểm).

+ ĐT: điểm ưu tiên đối tượng theo quy chế của Bộ GD&ĐT, gồm đối tượng 01 (người dân tộc), 03 (chiến sĩ nghĩa vụ trên 24 tháng hoặc trên 12 tháng tại khu vực 1), 04 (con thương binh, liệt sĩ) được cộng 2.0 điểm, đối tượng 05 (chiến sĩ nghĩa vụ dưới 18 tháng không ở khu vực 1) được cộng 1.0 điểm

+ ĐTh: điểm cộng cho con đẻ của cán bộ Công an được cộng 1.0 điểm; con đẻ của Trưởng, Phó trưởng Công an xã được cộng 0.5 điểm.

Đối với thí sinh không dự thi tốt nghiệp THPT do ảnh hưởng của dịch COVID-19, điểm 3 môn thuộc tổ hợp xét tuyển được tính bằng điểm trung bình cộng 3 môn thuộc tổ hợp xét tuyển vào trường CAND trong các năm học THPT.

3. Kết quả xét tuyển

3.1. Xét tuyển bằng học bạ trung học phổ thông (đối với thí sinh không dự thi tốt nghiệp THPT do ảnh hưởng của dịch Covid-19): 25.58 điểm.

3.2. Xét tuyển bằng điểm thi trung học phổ thông năm 2021

3.2.1. Hệ trung cấp Trường Đại học PCCC

– Phía Bắc:

+ Đối với nam: 24.5 điểm.

+ Đối với nữ: 26.44 điểm.

– Phía Nam:

+ Đối với nam: 24.5 điểm.

+ Đối với nữ: không có thí sinh đăng ký.

3.2.2. Hệ trung cấp Trường Cao đẳng ANND I –

Phía Bắc:

+ Đối với nam: 27.34 điểm.

+ Đối với nữ: 27.83 điểm.

– Phía Nam:

+ Đối với nam: 27.03 điểm.

+ Đối với nữ: 23.61 điểm.

3.2.3. Hệ trung cấp Trường Cao đẳng CSND I

– Đối với nam: 27.18 điểm.

– Đối với nữ: 26.75 điểm.

3.2.4. Hệ trung cấp Trường Cao đẳng CSND II

– Đối với nam: 26.81 điểm.

– Đối với nữ: 22.3 điểm.

  • Công bố điểm chuẩn trung cấp CAND năm 2021 Chính thức công bố điểm chuẩn vào các trường CAND năm 2021
  • Công bố điểm chuẩn trung cấp CAND năm 2021 Công bố điểm chuẩn trúng tuyển vào trường CAND đối với nhóm thí sinh diện đặc cách tốt nghiệp

Bản đăng ký Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021 Đăng ký cá nhân thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW (7 mẫu)

Bản đăng ký Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021 gồm 7 mẫu đăng ký. Đây là mục tiêu của mỗi cá nhân tại các chi bộ, đoàn thể, cơ quan, đơn vị cùng hướng tới trong năm 2021. Để hoàn thành tốt mục tiêu đó mỗi cá nhân cần đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo mẫu dưới đây để góp phần xây dựng Đảng, nhà nước ngày một vững mạnh.

Bản đăng ký cá nhân thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW là 1 trong những tiêu chí quan trọng để kiểm điểm, đánh giá, phân loại Đảng viên dịp cuối năm. Vậy mời các bạn cùng theo dõi 7 mẫu đăng ký trong bài viết dưới đây.

Bài thu hoạch học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Bản đăng ký Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021

  • Bản đăng kí học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
  • Mẫu bản đăng ký Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021
  • Bản đăng ký cá nhân thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW
  • Bản đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021 của Đảng viên
  • Bản đăng ký thi đua cá nhân học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 2021
  • Bản đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 2021
  • Bản đăng ký thực hiện chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021
  • Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh năm 2021

Bản đăng kí học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

ĐẢNG ỦY ……………………….

CHI BỘ …………………………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

……, ngày ….. tháng …. năm 20……

BẢN ĐĂNG KÝ HỌC TẬP CHUYÊN ĐỀ 20……

“Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

Kính gửi:………………………………………………………… ………………………………

Họ và tên:……………….. ..Sinh ngày:…………………………………………………

Chức vụ trong Đảng:……………………………………….. ……………………………….

Chức vụ chính quyền, đoàn thể:……………………….. ……………………………….

Sinh hoạt tại chi bộ:…………………………………………. ……………………………….

Thực hiện công văn số ….-CV/ĐU ngày … tháng .. năm…… của Đảng ủy ……. về việc viết bản đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 20…… “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Tôi xin đăng ký và hạ quyết tâm học tập chuyên đề năm 20…… cụ thể như sau:

I. Nội dung đăng ký

1. Ý thức về ý thức tôn trọng Nhân dân

Ý thức tôn trọng nhân dân ở khía cạnh đạo đức cần phải khai thác ở việc coi trọng, đề cao nhân dân. Tôn trọng nhân dân trong đạo đức Hồ Chí Minh là đề cao ý dân, sức dân, bởi “dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Vì vậy, “đối với dân ta đừng có làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, yêu kính nhân dân, thật sự tôn trọng nhân dân.

2. Ý thức về phát huy dân chủ

Dân chủ được Người giải thích ngắn gọn, súc tích là dân làm chủ và dân là chủ. Trong nước dân chủ thì địa vị cao nhất là dân, dân là quý nhất, lực lượng nhân dân là mạnh nhất. Phát huy dân chủ là phát huy tài dân. Muốn vậy, thì phải chịu khó nghe dân, gặp dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân. Học hỏi dân để lãnh đạo dân. Theo Hồ Chí Minh “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”

3. Ý thức về chăm lo đời sống nhân dân

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân là vì con người, do con người, trước hết là vì dân và do dân. Theo Bác, muốn có sức dân, lòng dân thì phải chăm lo đời sống của dân. Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh vẫn quan tâm “đầu tiên là công việc đối với con người”. Người dặn trong Di chúc “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

II. Các giải pháp thực hiện:

– Thực hiện đúng các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong thực hành công vụ, trong quan hệ với Nhân dân. Tích cực tham gia các chương trình mục tiêu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người do Đảng, Nhà nước đề ra và phát động, làm gương và giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo ở địa phương, trong cộng đồng.

– Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, tự giác thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “muốn người ta theo mình, phải làm gương trước”.

– Tự giác thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư khóa XI về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Trong đó, có yêu cầu cán bộ, đảng viên phải:

+ “Gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân”;

+ Về đạo đức, lối sống, tác phong, phải: “Nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú”;

+ Về quan hệ với Nhân dân phải: “Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của Nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, chủ động đối thoại với Nhân dân và cán bộ dưới quyền. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà Nhân dân”.

Với các nội dung đăng ý nêu trên, tôi xin hạ quyết tâm năm 20…… hoàn thành tốt nhiệm vụ và thực hiện tốt các nội dung đã đăng ký.

XÁC NHẬN CỦA CHI BỘ(Ký và ghi rõ họ tên)

NGƯỜI ĐĂNG KÝ(Ký và ghi rõ họ tên)

Mẫu bản đăng ký Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021

BẢN ĐĂNG KÝ HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH NĂM 2021

Họ và tên:……………………………………………………………………………

Chức vụ:……………………………………………………………………………..

Đoàn thể:…………………………………………………………………………….

Căn cứ: …………………………………………………………………………….

Tôi xin phấn đấu học tập, rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021 như sau:

1. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về trung thực trách nhiệm: Chống ại tình trạng thiếu trung thực, vô cảm. Sống trung thực và có trách nhiệm với chính mình, với gia đình, với bạn bè, đồng nghiệp.

Nội dung:……………………………………………………………………………

Giải pháp:………………………………………………………………………….

2. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về gắn bó với nhân dân: Giữ vững tư tưởng “lấy dân làm gốc”, thực hiện gần dân, trọng dân, học dân, đề xuất thực hiện các chính sách xuất phát từ lợi ích của nhân dân.

Nội dung:…………………………………………………………………………..

Giải pháp:………………………………………………………………………….

3. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh: Luôn nhận thức nhiệm vụ xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt, thực hiện nghiêm những nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên tắc tập trung dân chủ.

Nội dung:……………………………………………………………………………

Giải pháp:………………………………………………………………………….

Bản đăng ký cá nhân thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW

ĐẢNG BỘ ……………..

CHI BỘ ………………………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

……………, ngày … tháng 2 năm 20…

BẢN ĐĂNG KÝ CÁ NHÂNThực hiện Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 20…

(theo Kế hoạch số …-KH/ĐU ngày … tháng … năm 20… của Đảng ủy)

Họ và tên: ……………………………………….Sinh năm: ………..

Chức vụ Đảng:…………………………………………………………

Chức vụ chính quyền:…………………………………………………

Đơn vị công tác:………………………………………………………..

Chi bộ:……………………………………………………………………

Thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 20… Bản thân đăng ký học tập nội dung cụ thể như sau:

1. Về tư tưởng chính trị:…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

2. Phẩm chất đạo đức, lối sống…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

3. Về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (Liên hệ các biểu hiện cụ thể trong công tác và trong sinh hoạt như: sự tận tụy, tâm huyết, trách nhiệm, chống quan liêu, lợi dụng chức trách, quyền hạn, các “bệnh”: kéo bè, kéo cánh, nói một đằng, làm một nẻo, nói, hứa mà không làm; xây dựng lối sống thẳng thắn, trung thực, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, tôn trọng, thực hiện nghiêm chính sách, luật pháp của Nhà nước,…)…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

4. Xác định nội dung đột phá để phấn đấu thực hiện (Nhằm làm chuyển biến rõ nét trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phù hợp với cá nhân nên chọn lựa nội dung gắn với nhiệm vụ được giao), cụ thể như:

(1) Tích cực nghiên cứu, học tập và tham gia tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng;

(2) Đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách làm việc, tác phong công tác, nhất là phong cách gần dân, tôn trọng dân, có trách nhiệm với dân, sâu sát cơ sở;

(3) Không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trong sáng, gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, chống bệnh thành tích, hình thức;

(4) Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực, quan liêu, tham nhũng;

(5) Phát huy dân chủ, tăng cường đoàn kết, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc “tập trung dân chủ”, thực hiện tốt “tự phê bình và phê bình” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII của Đảng.

6) Nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, tích cực, quyết liệt trong công việc, nói đi đôi với làm.

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

5. Phương hướng phấn đấu, làm theo (Những nội dung gắn với nhiệm vụ được giao, nhất là trong tinh thần, trách nhiệm, thái độ về xây dựng phong cách, tác phong công tác của người đứng đầu, của cán bộ đảng viên)…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

Trên đây là Bản đăng ký cá nhân trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW năm 20…

Người đăng ký

Bản đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021 của Đảng viên

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

BẢN ĐĂNG KÝ CÁ NHÂNHọc tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021

Kính gửi:………………………………………………………………………………………………..

Tôi tên:………………………………………………………………………………………………….

Chức vụ trong Đảng:…………………………………………………………………………………

Chức vụ chính quyền, đoàn thể:…………………………………………………………………..

Thực hiện Kế hoạch số 02/KH-CB, ngày 01 tháng 04 năm 2015 của chi bộ về việc học tập chuyên đề năm 2020 “Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong sinh hoạt chi bộ, đoàn thể, tại các cơ quan, đơn vị và tuyên truyền trong nhân dân. Bản thân tôi xin đăng ký học tập và làm theo Bác về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh như sau:

1. Tháng 4 và tháng 5 năm 2021 đăng ký làm theo:

– Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “trung thực, trách nhiệm”:

– Tư tưởng Hồ Chí Minh về “trung thực”.

  • Luôn rèn luyện bản lĩnh vững vàng, có niềm tin vào mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng. Luôn luôn trung thực với mình, thể hiện qua công việc chuyên môn nhà trường, trong báo cáo cũng như trong đánh giá các hoạt động.
  • Thực hiện nói và làm đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chống chủ nghĩa cá nhân, không được vì lợi ích cá nhân mà xuyên tạc, nói sai, làm sai. Tuyên truyền, giáo dục, vận động đảng viên quần chúng làm theo cho đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
  • Thực hiện tốt việc thống nhất giữa lời nói và việc làm, “không nói một đàng, làm một nẻo”.
  • Luôn nghiêm túc với chính mình, đúng mực với người khác, không được “hứa mà không làm”. Thực hiện tốt lời dạy của Hồ Chí Minh “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Cán bộ, đảng viên “cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh… phải thật thà nhúng tay vào việc”.
  • Luôn kiểm tra, đánh giá những nghị quyết của chi bộ và kế hoạch của nhà trường đã thi hành thế nào. Thực hiện đến nơi đến chốn những nghị quyết, kế hoạch đề ra.
  • Luôn luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để hoàn thành trách nhiệm, lời hứa trước chi bộ, quần chúng. Khi mắc sai lầm, khuyết điểm thì dũng cảm nhận lỗi tập thể và kiên quyết dựa vào tập thể để sửa chữa khuyết điểm.
  • Chấp hành tốt các quy định ở địa phương nơi cư trú. Tham gia và đóng góp cho các cuộc họp nơi bản thân cư trú.

– Tư tưởng Hồ Chí Minh về “trách nhiệm”.

+ Luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong công việc của chi bộ, nhà trường. Không thoái thác, trốn tránh nhiệm vụ. Tự ý thức về các công việc phải làm, “nhận rõ phải, trái, đúng sai”, tự mình xác định việc cần làm. Có trách nhiệm với bản thân, với công việc được giao. Tự giác, tự mình cố gắng vươn lên để hoàn thành trách nhiệm đó.

+ Phải sâu sát, gần gũi quần chúng, chăm lo giúp đỡ quần chúng về mọi mặt; Biết lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của quần chúng, phụ huynh, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với tập thể, giải thích trước tập thể … Đưa mọi vấn đề cho tập thể thảo luận và tìm cách giải quyết.

+ Luôn nêu gương trước quần chúng về mọi mặt, trong phong trào luôn tiên phong, gương mẫu làm trước, tiến trước để quần chúng noi theo.

+ Luôn kính yêu đồng nghiệp, tôn trọng quyền làm chủ của tập thể, không có thái độ quan liêu, không hách dịch, nhũng nhiễu quần chúng. Xác định được mục đích “vào Đảng để làm đầy tớ cho Nhân dân… Lãnh đạo là làm đầy tớ Nhân dân và phải làm cho tốt”.

+ Luôn luôn kiên định với tôn chỉ, mục đích, mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Thực hiện tốt các nhiệm vụ của người đảng viên; chấp hành nghiêm Điều lệ, kỷ luật Đảng; tích cực tham gia xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh.

+ Chăm lo xây dựng gia đình, tạo dựng gia đình hạnh phúc… Giáo dục các thành viên trong gia đình về trách nhiệm xã hội, về ý chí vươn lên trong học tập và công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Quan tâm giáo dục cho con cháu về đạo đức, lối sống lành mạnh, nhất là tinh thần cần kiệm, liêm chính, lòng nhân ái, tình đoàn kết cộng đồng; biết kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ, quê hương và của toàn dân tộc.

+ Luôn thực hiện tốt quy định những điều đảng viên không được làm, trong đó tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

  • Không uống rượu bia trong giờ hành chánh. Không tham gia điều khiển các phương tiện giao thông khi uống rượu bia.
  • Không mê tín, dị đoan. Không tổ chức tiệc tùng nhằm trục lợi cá nhân.

2. Tháng 6 và tháng 7 năm 2021 đăng ký làm theo:

– Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “gắn bó với nhân dân”.

Để gắn bó với dân, giữ vững mối liên hệ giữa cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tôi xin đăng ký làm theo những việc sau:

  • Biết nhận rõ phải, trái, giữ gìn lập trường, quan điểm của Đảng.
  • Luôn luôn xung phong, gương mẫu trong trong công tác, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân, luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, cần kiệm, liêm chính.
  • Bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương cho quần chúng. Luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Nhân dân, trước Đảng, kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân;
  • Luôn đặt lợi ích của Đảng lên trên. Nếu lợi ích của Đảng và lợi ích cá nhân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân phải tuyệt đối phục tùng lợi ích Đảng.
  • Nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân, kính yêu Nhân dân. Tôn trọng thật sự quyền làm chủ của Nhân dân. Trong công tác không được “kiêu ngạo, tự cao, tự đại”…

3. Tháng 8 và tháng 9 năm 2021 đăng ký làm theo:

– Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

  • Tổ chức nghiêm túc, đúng điều lệ các cuộc họp chi bộ. Thể hiện tinh thần dân chủ, tập trung vào phê bình, tự phê bình trong sinh hoạt Đảng.
  • Trong công việc ngoài thực hiện đúng nguyên tắc, bản lĩnh, lý trí cần phải thương yêu, đồng cảm và chia sẻ với đồng chí, đồng nghiệp. Tạo sự hiểu biết, tin cậy nhau giữa các đảng viên trong chi bộ.
  • Tránh các căn bệnh “quan liêu”, “tham nhũng, lãng phí”, “xa dân”.
  • Nâng cao phẩm chất trí tuệ của đảng viên. Xây dựng, hoàn thiện các kế hoạch, nghị quyết phù hợp với đường lối chính sách của Đảng, với tình hình kinh tế, xã hội tại địa phương.
  • Quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, thực sự coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt ở tất cả các cấp, các ngành.
  • Đề cao công tác tiếp dân, giải quyết tốt mối quan hệ với dân.

Bản thân tôi xin đăng ký thực hiện hoàn thành vào cuối tháng….. năm 2021.

XÁC NHẬN CỦA CHI BỘP. BÍ THƯ CHI ỦY

NGƯỜI ĐĂNG KÝ

Bản đăng ký thi đua cá nhân học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

……………., ngày … tháng … năm 20…

Dành cho cán bộ công chức, viên chức, nhân viên (đảng viên và không đảng viên)

BẢN ĐĂNG KÝ THI ĐUA CỦA CÁ NHÂN NĂM….

(Gắn với cam kết thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng)

Kính gửi:………………………………………..

Họ và tên:TTTD.VN ngày………………………………..

Đơn vị công tác:………………………………………………………………………………..

Chức vụ Đảng: ………………………………………………………………………………….

Chức vụ chính quyền, đoàn thể:…………………………………………………………..

Sinh hoạt tại Chi bộ: …………………………………………………………………………

Căn cứ nội dung phát động phong trào thi đua của cơ quan, đơn vị. Tôi xin hưởng ứng và đăng ký tham gia thi đua với các nội dung sau:

I. Đăng ký tham gia thi đua thực hiện tốt nhiệm vụ được giao gắn với các phong trào thi đua do các cấp phát động

…………………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………………..

II. Đăng ký tham gia thi đua gắn với cam kết thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng

1. Về tư tưởng chính trị

(Luôn trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng; không có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị ”tự diễn biến”, ”tự chuyển hóa”).

…………………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………………….

2. Về phẩm chất đạo đức lối sống

(Luôn rèn luyện, tu dưỡng học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống gương mẫu trong công tác và cuộc sống, trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu tham nhũng, lãng phí; không có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống)

…………………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………………….

3. Về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao

(Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ; đổi mới phương pháp công tác và lề lối làm việc; chấp hành và bảo vệ, tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên, gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, quan điểm chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tích cực học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác; hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao).

…………………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………………….

4. Về tổ chức kỷ luật

(Thực hiện nghiêm các nguyên tắc sinh hoạt của tổ chức; chấp hành sự phân công của tổ chức; tự giác chấp hành các nghị quyết, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú).

…………………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………………….

5. Về đăng ký học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh:

Căn cứ chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hàng năm, cá nhân chọn một số nội dung cụ thể gắn với Chuyên đề của năm để đăng ký thực hiện bằng những việc làm, hành động cụ thể, chú ý khắc phục những hạn chế, tồn tại của cá nhân trong thời gian qua và phương hướng, giải pháp khắc phục những hạn chế, tồn tại (qua kiểm điểm, đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên cuối năm).

…………………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………………….

(Chuyên đề năm 2020 là: “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”)

6. Về cam kết tu dưỡng, rèn luyện,giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”:

– Tự cam kết về việc không vi phạm 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng đã chỉ ra;

– Bản thân tự kiểm điểm và khắc phục biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà bản thân nhận thấy cần khắc phục; hoặc những biểu hiện mà cấp ủy, cơ quan gợi ý.

– Về phương hướng, giải pháp thực hiện.

…………………………………………………………………………………………………….

7. Về kế hoạch hành động thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của Tỉnh ủy

(Nội dung này chỉ áp dụng đối với cá nhân là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Các đồng chí đã xây dựng kế hoạch hành động của cá nhân sau khi học tập, quán triệt thì nội dung này là cam kết thực hiện kế hoạch hành động đã xây dựng).

…………………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………………….

III. Đăng ký danh hiệu thi đua năm 2021 (Cá nhân đăng ký danh hiệu nào đánh dấu X vào ô tương ứng):

1.

Danh hiệu “Lao động tiên tiến”…………………………TTTD.VN hiệu “chiến sĩ thi đua cơ sở”………………………..Có sáng kiến, giải pháp hữu ích, đề tài trong công tác……3.Danh hiệu “chiến sĩ thi đua cấp tỉnh” (nếu có)……………Có sáng kiến, giải pháp hữu ích, đề tài trong công tác……4.Danh hiệu “chiến sĩ thi đua toàn quốc” (nếu có)………….Có sáng kiến, giải pháp hữu ích, đề tài trong công tác……5.Danh hiệu “Anh hùng Lao động” (nếu có)………………..Có sáng kiến, giải pháp hữu ích, đề tài trong công tác……

IV. Đăng ký hình thức khen thưởng năm 2021 (Cá nhân đăng ký danh hiệu nào đánh dấu X vào ô tương ứng):

1.Giấy khen của thủ trưởng cơ quan ………………………..2.Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa …………3.Bằng khen của Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ (ngành dọc) …4.Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ …………………….5.Huân chương các hạng ……………………………………

(Lưu ý: cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên không phải là đảng viên thì không cần xác nhận của Chi bộ)

Xác nhận của đơn vị Người đăng kýXác nhận của Chi bộ

Bản đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 2021

ĐẢNG ỦY ……………………….

CHI BỘ …………………………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

……, ngày ….. tháng …. năm……

BẢN ĐĂNG KÝ HỌC TẬP CHUYÊN ĐỀ NĂM…….“……………………………………….”

Kính gửi:…………………………………………………………………………………………

Họ và tên:TTTD.VN ngày……………………………….

Chức vụ trong Đảng:…………………………………………………………………………

Chức vụ chính quyền, đoàn thể:…………………………………………………………

Sinh hoạt tại chi bộ:…………………………………………………………………………..

Thực hiện công văn số ….-CV/ĐU ngày … tháng .. năm … của Đảng ủy ……. về việc viết bản đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021 “………………………………..”. Tôi xin đăng ký và hạ quyết tâm học tập chuyên đề năm…… cụ thể như sau:

I. Các chuẩn mực chính trong nội dung đăng ký

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân được thể hiện là phải có thái độ đánh giá cao vai trò, vị trí của nhân dân. Theo Bác, muốn thật sự tôn trọng nhân dân thì phải hiểu dân. Chính tài dân, sức dân, của dân, quyền dân, lòng dân, sự khôn khéo, hăng hái, anh hùng đã tạo nên “cái gốc” của dân. Cùng với thái độ đánh giá cao vai trò của nhân dân, ý thức tôn trọng nhân dân còn phải đặc biệt chú ý không xâm phạm đến lợi ích, quyền lợi hợp pháp, không xúc phạm nhân dân. Phải luôn luôn tôn trọng và giữ gìn của công, của nhân dân.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân là vì con người, do con người, trước hết là vì dân và do dân. Theo Bác, muốn có sức dân, lòng dân thì phải chăm lo đời sống của dân. Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh vẫn quan tâm “đầu tiên là công việc đối với con người”. Người dặn trong Di chúc “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Đạo đức Hồ Chí Minh về ý thức tôn trọng Nhân dân thể hiện nổi bật ở sự thống nhất giữa tư tưởng đạo đức và tư tưởng chính trị của Người.

Ý thức tôn trọng nhân dân ở khía cạnh đạo đức cần phải khai thác ở việc coi trọng, đề cao nhân dân. Tôn trọng nhân dân trong đạo đức Hồ Chí Minh là đề cao ý dân, sức dân, bởi “dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Vì vậy, “đối với dân ta đừng có làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, yêu kính nhân dân, thật sự tôn trọng nhân dân.

Hướng dẫn số 74 của Ban Tuyên giáo Trung ương nêu rõ, mục đích, yêu cầu của việc học tập chuyên đề năm …… là tăng cường việc xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên, nhằm tạo động lực to lớn cho công cuộc đổi mới, góp phần đẩy mạnh xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, củng cố hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay.

II. Các nội dung đăng ký theo thực tế công tác

Dựa trên các chuẩn mực chính trong nội dung đăng ký, tôi đăng ký các nội dung theo thực tế công tác như sau:

– Thực hiện đúng các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong thực hành công vụ, trong quan hệ với Nhân dân. Tích cực tham gia các chương trình mục tiêu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người do Đảng, Nhà nước đề ra và phát động, làm gương và giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo ở địa phương, trong cộng đồng.

– Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, tự giác thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “muốn người ta theo mình, phải làm gương trước”.

– Tự giác thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư khóa XI về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Trong đó, có yêu cầu cán bộ, đảng viên phải:

+ “Gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân”;

+ Về đạo đức, lối sống, tác phong, phải: “Nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú”;

+ Về quan hệ với Nhân dân phải: “Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của Nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, chủ động đối thoại với Nhân dân và cán bộ dưới quyền. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà Nhân dân”.

III. Hướng đăng ký phấn đấu trong thời gian tới.

Về việc triển khai thực hiện chuyên đề năm……, tôi nhận thấy bản thân mình phải nghiêm túc khắc phục những khuyết điểm trong phong cách làm việc, phong cách sống, lối sống, thói quen làm việc, thói quen sinh hoạt, nói năng,… làm ảnh hưởng đến cơ quan và uy tín bản thân; nêu cao tinh thần trách nhiệm, rèn luyện bản lĩnh và thái độ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm với lời nói, việc làm của mình trước tập thể, cấp trên và trước quần chúng.

Với các nội dung đăng ký nêu trên, tôi xin hạ quyết tâm năm 2021 hoàn thành tốt nhiệm vụ và thực hiện tốt các nội dung đã đăng ký.

XÁC NHẬN CỦA CHI BỘNGƯỜI ĐĂNG KÝ

Bản đăng ký thực hiện chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

BẢN ĐĂNG KÝThực hiện chuẩn mực đạo đức theotư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2021

Kính gửi: – Hiệu trưởng trường ………………….

Họ và tên: …………………………………………………………………………………………………….

Sinh ngày…….tháng………năm………….

Là (tổ trưởng, giáo viên hay nhân viên)……………… thuộc tổ: ………… trường ……………..;

Căn cứ kế hoạch số …………… ngày ……../……./……. của trường ………………… về việc đăng ký thực hiện chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2021.

Trên cơ sở đã được học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua.

Để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, bản thân tôi chọn các chuẩn mực đạo đức cần rèn luyện và thời gian thực hiện như sau:

I/ Các chuẩn mực cần thực hiện (nêu ra tên chuẩn mực cụ thể)

1. …………………………………………………………………………………………………………………

2. …………………………………………………………………………………………………………………

3. …………………………………………………………………………………………………………………

II/ Các biện pháp thực hiện:

1. ………………………………………………………………………………………………………………….

2. ………………………………………………………………………………………………………………….

3. ………………………………………………………………………………………………………………….

III/ Thời gian thực hiện:

…………………………………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………………………………….

………, ngày…tháng….năm….Người đăng ký(Ký và ghi rõ họ tên)

Lưu ý: Nếu đơn vị bạn công tác không triển khai viết bản đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2021, mà lồng ghép vào bản cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu năm 2021 thì bạn có thể xem tại đây:

Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh năm 2021

Chuyên đề năm 2021 là: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” .

Chuyên đề 2021 cung cấp những nội dung cơ bản, các giải pháp chủ yếu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong năm 2021 và những năm tiếp theo, nhằm phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Chuyên đề được dùng trong sinh hoạt chi bộ, đoàn thể, cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị và được tuyên truyền rộng rãi trong toàn thể nhân dân.

>>> Mẫu bản cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của Đảng viên

Mẫu đơn xin di dời cột điện trước nhà mới nhất 2022

Mục lục bài viết

Nhiều công trình xây dựng ở nước ta hiện nay đang bị xuống cấp do thời gian, trở thành vật cản của quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa đô thị, không những thế còn có thể gây nguy hiểm cho những người dân xung quanh. Cột điện là một trong những công trình như vậy, qua thời gian, có có thể xuống cấp và gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân.

Do vậy, người dân hoặc các cơ quan, tổ chức nếu phát hiện thấy những cột điện đã bị gãy đổ hoặc quá xuống cấp, có nguy cơ gây nguy hiểm cho cuộc sống của người dân hoặc cột điện làm ảnh hưởng đến cuộc sống sản xuất của người dân thì có thể làm đơn gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin di dời cột điện sang địa điểm khác. Tuy có thể xin di dời cột điện sang địa điểm khác nhưng việc xin di dời vẫn phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định.

Để bạn đọc nắm rõ được những trình tự, thủ tục di dời cột điện thì trong bài viết này, chúng tôi sẽ giải đáp cho bạn đọc những thắc mắc liên quan đến việc di dời cột điện sang địa điểm khác, trình tự, thu tục xin di dời cột điện và cung cấp cho bạn đọc mẫu đơn xin di dời cột điện để bạn đọc tiện tham khảo.

Di dời cột điện là gì?

Di dời cột điện là việc di chuyển cột điện từ một địa điểm này sang một địa điểm khác để cột điện không gây ảnh hưởng đến các công trình xây dựng khác, không gây cản trở cho đời sống của người dân như làm khuất tầm nhìn, cột điện xuống cấp tiềm ẩn nguy cơ gãy đổ, gây cản trở việc đi lại,…

Lợi ích của việc di dời cột điện

Việc di dời cột điện đến địa điểm khác đem lại những lợi ích như:

– Di dời cột điện giúp cho cột điện không làm ảnh hưởng đến các công trình quan trọng khác gần đó, cản trở việc thi công xây dựng các công trình như nhà cửa, đường xá,…

– Di dời cột điện giúp cho một số gia đình thuận lợi hơn trong việc đi lại, sinh hoạt và sản xuất do những cột điện gây khuất tầm nhìn, cột điện xây dựng chiếm quá nhiều diện tích đường đi lại của người dân. Ngoài ra, giúp giảm thiểu việc xảy ra những tai nạn không mong muốn như cột điện gãy đổ;

– Đảm bảo an toàn cho hành lang lưới điện và tăng thêm mỹ quan cho khu dân cư, đường phố.

Các biện pháp thi công di dời cột điện

Để có thể di dời cột điện, đơn vị có trách nhiệm cần thực hiện những bước sau:

– Tiến hàng thẩm tra và đánh giá công trình, xác định cột điện đã đủ điều kiện để di dời cột điện hay chưa;

– Lên phương án cắt điện trong khu vực có cột điện cần di dời, có biện pháp đấu nối tạm thời để đảm bảo việc sinh hoạt của người dẫn vẫn được diễn ra bình thường, cần xem xét thời gian thi công công trình, cơ sở thay thế…

– Lên phương án cho vị trí mới mà cột điện dự tính chuyển đến;

– Lên phương án thi công, di dời;

– Nghiệm thu và kiểm tra hiệu suất sử dụng của cột điện

Chi phí để thực hiện di chuyển cột điện sẽ được căn cứ trên thực tế và các công đoạn phải thực hiện, tại thời điểm tháng 09 năm 2021, chi phí tối thiểu là 3.000.000 đồng và tối đa là 15.000.000 đồng trên một cột điện, trụ điện dân sinh.

Mẫu đơn xin di dời cột điện

Để được chấp nhận cho di dời cột điện, người có nhu cầu cần làm đơn xin di dời cột điện, gửi đến cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để được xem xét di dời cọt điện.

Chúng tôi xin gửi tới bạn đọc Mẫu đơn xin di dời cột điện như sau:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————-

Hà Nội, ngày …. tháng …. năm 2021

ĐƠN ĐỀ NGHỊ DI DỜI CỘT ĐIỆN

(V/v: Di dời cột điện nằm trước địa chỉ …….)

Kính gửiĐơn vị Điện lực ….. (Công ty Điện lực quận ………..)

Tôi là:…………………….. Sinh năm ………………..

CMND số: …………………….. cấp ngày ………….. tại ………………….

Hiện đang sinh sống tại địa chỉ……………….

Bằng Đơn này chúng tôi muốn trình bày và đề nghị với Quý cơ quan một việc như sau:

Chiếc cột điện nằm trước nhà tôi hiện đã rất cũ và hư hỏng, đã bị tháo dời các dây điện mắc qua và hiện tại không còn ảnh hưởng gì đến lưới điện quốc gia. Tuy nhiên đã hơn 2 năm nay, vẫn không có cơ quan chức năng nào tới tháo dỡ di dời cột điện đi làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống thường nhật của gia đình tôi. Gia đình tôi đã phải mua cọc tre để rằng kéo lại cột điện tránh đổ, sụt, nhưng đây chỉ là biện pháp tạm thời, trông rất mất cảnh quan và tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm.

Kính mong Quý cơ quan nhanh chóng có biện pháp xử lý vấn đề trên trả lại cảnh quan đô thị và đảm bảo an toàn cho những hộ dân sinh sống quanh cột điện này.

Tôi xin chân thành cám ơn!

Tài liệu kèm theo Đơn:

1. Hình ảnh cột điện cũ

NGƯỜI LÀM ĐƠN

Văn mẫu lớp 12: Phân tích nhân vật Thị trong truyện ngắn Vợ nhặt Sơ đồ tư duy & 17 bài phân tích nhân vật vợ nhặt

Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt gồm 17 bài văn mẫu siêu hay kèm theo sơ đồ tư duy. Qua 17 mẫu phân tích nhân vật vợ nhặt giúp các bạn lớp 12 có thêm nhiều gợi ý tham khảo, trau dồi kiến thức, biết cách làm bài văn phân tích ngày một hay hơn.

Phân tích nhân vật Thị hay nhất

Thị là người đàn bà không rõ lai lịch, không có gia đình, không có nhà cửa, thậm chí không có tên, khi xuất hiện lúc được gọi là thị, là cô ả, lúc là người vợ nhặt. Nhân vật Thị trong Vợ nhặt nắm giữ vai trò khá quan trọng trong, làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Đồng thời có vai trò quyết định trong việc hình thành nên tình huống truyện. Vậy sau đây là 17 bài văn mẫu phân tích người vợ nhặt, mời các bạn cùng theo dõi tại đây.

Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt hay nhất

  • Sơ đồ tư duy phân tích người vợ nhặt
  • Dàn ý phân tích nhân vật Thị
  • Phân tích nhân vật người vợ nhăt – Mẫu 1
  • Phân tích nhân vật người vợ nhăt – Mẫu 2
  • Phân tích nhân vật người vợ nhăt – Mẫu 3
  • Phân tích nhân vật vợ nhặt – Mẫu 4
  • Phân tích nhân vật vợ nhặt – Mẫu 5
  • Phân tích nhân vật vợ nhặt – Mẫu 6
  • Phân tích nhân vật vợ nhặt – Mẫu 7
  • Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 8
  • Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 9
  • Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 10
  • Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 11
  • Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 12
  • Nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 13
  • Nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 14
  • Nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 15

Sơ đồ tư duy phân tích người vợ nhặt

Dàn ý phân tích nhân vật Thị

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả Kim Lân: là cây bút chuyên viết Truyện ngắn, ông am hiểu sâu sắc đời sống của người nông dân và thường tập trung viết về họ.
  • Vợ nhặt là một trong số những truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân của ông. Nhân vật đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm này chính là người vợ nhặt.

II. Thân bài

1. Lai lịch

  • Không có quê hương gia đình: có thể thấy nạn đói năm 1945 đã khiến biết bao con người bị dứt khỏi quê hương, gia đình.
  • Tên tuổi cũng không có và qua tên gọi “vợ nhặt”: thấy được sự rẻ rúng của con người trong cảnh đói.

2. Chân dung

– Ngoại hình: quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt.

– Lần thứ nhất: khi nghe câu hò vui của Tràng, Thị đã vui vẻ giúp đỡ, đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.

– Lần thứ hai:

  • Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn, khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”.
  • Khi nghe tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ cùng về”, Thị đã theo về thật bởi trong cái đói khổ, đó là cơ hội để Thị bấu víu lấy sự sống.

– Nhận xét: cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người. Người đọc vẫn cảm thông sâu sắc với Thị vì đó không phải là bản chất mà do cái đói xô đẩy.

3. Phẩm chất

– Có khát vọng sống mãnh liệt:

  • Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ vì Thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.
  • Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, Thị “nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội sống.

– Thị là người ý tứ và nết na:

  • Trên đường về, Thị cũng rón rén e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, Thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.
  • Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.
  • Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào Thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng nghịu.
  • Sáng hôm sau, Thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực.
  • Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt Thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không buồn làm bà buồn.

– Nhận xét: cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người.

– Thị còn là người có niềm tin vào tương lai: kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hy vọng cho cả gia đình, đặc biệt là cho Tràng.

– Nêu cảm nhận chung về hình tượng người vợ nhặt sau khi phân tích.

III. Kết bài

  • Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện độc đáo, xây dựng hình tượng nhân vật thành công, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, …
  • Tác phẩm chứa đựng giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc: người đọc hiểu và cảm thông với cảnh ngộ thương tâm, rẻ rúng của người lao động trong nạn đói, tố cáo thực dân, phát xít, ngợi ca khát vọng sống trong cảnh cơ cực.

…………..

Xem thêm: Dàn ý phân tích người vợ nhặt

Phân tích nhân vật người vợ nhăt – Mẫu 1

Trong kí ức của mỗi người Việt Nam, nạn đói năm Ất Dậu vẫn là một cơn ác mộng khó quên. Cũng từ đó, miếng cơm manh áo từ nỗi đau hiện thực trở thành đề tài sáng tác của những nhà văn. Thân phận những con người trở nên tầm thường, đến cả chuyện hạnh phúc lứa đôi cũng là chuyện rẻ rúng. Tất cả những điều đó đều được ghi lại bằng ngòi bút của Kim Lân qua nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm cùng tên.

Trước tiên, ta thấy Thị là nạn nhân của nạn đói với cuộc sống trôi nổi, bấp bênh. Là nhân vật vô danh, người vợ nhặt là đại diện chung của số phận của những người phụ nữ không may sinh ra trong hoàn cảnh bất hạnh. Người phụ nữ ấy không tên, không tuổi, không quê hương, không quá khứ. Từ đầu đến cuối tác phẩm, Kim Lân chỉ ban tặng cho nhân vật này những cách gọi tên rất chung chung như “cô ả”, “thị”, “người đàn bà”, “nàng dâu mới”, “nhà tôi”. Thị xuất hiện một cách bạo dạn, đáng thương trong hai lần gặp Tràng. Thị “ngồi vêu ra” lẫn trong đám con gái ngồi chờ nhặt hạt thóc rơi. Thị ton ton chạy lại đẩy xe tiếp Tràng với hi vọng được “kiếm ăn” nhưng thất bại. Từ sự cong cớn, liếc mắt cười tít, Thị chuyển sang vẻ tiều tụy, hốc hác vì cái đói trong lần gặp thứ hai “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Tràng dường như không thể nhận ra thị. Cùng với sự thay đổi về hình thức, cái đói đã xóa đi cái hồn nhiên hóm hỉnh của thị khi gặp Tràng, chị biến thành một người phụ nữ “đon đả”, táo bạo và liều lĩnh. Thị đói đến mức cắm đầu ăn bốn bát bánh đúc liền “Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng”. Kim Lân đã khắc họa hình ảnh một người phụ nữ thật đáng thương! Từ ngoại hình đến cử chỉ, hành động, thị đều hiện lên trên trang giấy với sự khắc khổ, nhếch nhác, tội nghiệp. Cái đói chẳng những tàn hại dung nhan mà còn tước đoạt cả tính cách và nhân phẩm của thị. Vì đói mà trở nên “chao chát”, “chỏng lỏn”, “sưng sỉa”.. Cái đói khiến thị quên đi việc giữ gìn ý tứ và lòng tự trọng của con gái. Càng tội nghiệp hơn khi cái đói buộc thị phải trở thành “người vợ nhặt” sau một câu nói nửa đùa nửa thật “này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cũng về”. Thế là xong một câu chuyện tình, một cuộc hôn nhân! Sự lãng mạn chỉ là điều không tưởng. Đang trên bờ vực của cái chết, thị còn lựa chọn nào hơn? Trong suy nghĩ của thị, Tràng như một cái phao cứu sinh, cứu thị ra khỏi sự đói khát của thế kỉ. Cái đói đã làm cho thị và biết bao người dân lúc bấy giờ rẻ rúng như vậy. Có ai ngờ được hạnh phúc lứa đôi được xây đắp bằng bốn bát bánh đúc và một lời nói bông đùa? Nhưng trong hoàn cảnh “người chết như ngả rạ”, “không khí ẩm lên mùi ẩm thối của rác tưởi và mùi gây của xác người” thì hạnh phúc tầm thường, đơn sơ kia cũng đáng quý biết bao.

Bên cạnh đó, Thị còn là người phụ nữ với lòng ham sống mãnh liệt. Thị đồng ý theo không Tràng là vì để được sống chứ không phải là lẳng lơ. Khát vọng sống mãnh liệt thúc giục thị phải tìm ra lối thoát cho hoàn cảnh thương tâm. Niềm lạc quan lạc sống ấy chính là một phẩm chất đáng quý mà nói như Kim Lân: “Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý thức khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”. Thị đến với Tràng trước hết làm tìm một chỗ nương tựa trong đói kém. Bởi thế, thị không thể giấu nổi sự thất vọng thầm kín trước gia cảnh thảm thương của gia đình Tràng “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Thị đảo mắt nhìn quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài”. Trên đường về nhà chồng, trước những lời bàn tán xôn xao, những chỉ trỏ chòng ghẹo của người dân ngụ cư, người vợ nhặt cảm thấy xấu hổ, ngượng nghịu đến mức “chân nọ bước díu cả vào chân kia”. Về đến nhà chồng, thị thất vọng trước cảnh nhà quá tồi tàn, khổ sở nhưng cố nén lại tất cả vào trong suy nghĩ. Trong tiếng thở dài ấy không chỉ có nỗi thất vọng mà còn xen cả lo toan, ý thức trách nhiệm, bổn phận của mình trong việc xây dựng cuộc sống gia đình về sau..

Nhân vật Thị còn để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc bởi những phẩm chất tốt đẹp. Vào trong nhà, thị e thẹn “ngồi mớm” vào mép giường và chào u một cách lúng túng. Khác với vẻ chao chát, cong cớn, chỏng lỏn ban đầu, thị bây giờ là nàng dâu mới với đầy đủ sự ý tứ, cung kính, mực thước. Chính tình cảm yêu thương, sự đùm bọc sẻ chia trong cơn hoạn nạn đã khiến con người sống tốt hơn, ý thức sâu sắc hơn về bổ phận và trách nhiệm của mình. Sáng hôm sau, thị dậy sớm để cùng mẹ chồng dọn dẹp trong ngoài. Đến cả chính Tràng cũng phải ngạc nhiên: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”. Trong bữa cơm đón nàng dâu mới bữa cơm thảm hại ngày đói, thị vẫn vui vẻ bằng lòng với bát cháo cám đắng chát. Thị là một cơn gió mới trong gia đình. Hiện thực khắc nghiệt, xót xa “người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại” nhưng thị vẫn “điềm nhiên và vào miệng”. Hoàn cảnh đấy, ai cũng phải cất lại nỗi tủi hờn bên trong để vui vầy cũng hạnh phúc bình dị, đơn sơ. Sự lạc quan được gói trọn trong lời của bà cụ Tứ: “Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”. Bên cạnh đó, người vợ nhặt còn là người phụ nữ thông minh hiểu biết. Nghe tiếng trống thúc thuế, thị tỏ ra ngạc nhiên hỏi mẹ chồng “Ở đây vẫn phải đóng thuế cơ à?” Câu nói của thị làm Tràng ngờ ngợ vỡ ra trong suy nghĩ “hắn đang nghĩ đến những người phá kho thóc Nhật”, “trong ý nghĩ của hắn vụt ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm éo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm”…

Điểm nhấn nghệ thuật ở người vợ nhặt chính là nghệ thuật khắc họa nhân vật của nhà văn Kim Lân. Tác giả đã đặt nhân vật trong tình huống “lạ”, “éo le”; diễn biến tâm lí được khắc họa qua các sự kiện với sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế qua hệ thống ngôn ngữ giản dị, mộc mạc.

Như vậy, nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân là một nhân vật tiêu biểu cho hình tượng người phụ nữ lao động nghèo khổ, đáng thương. Nhưng dù bị đẩy vào hoàn cảnh khốn cùng, thị vẫn ngời sáng bởi lòng ham sống, những phẩm chất tốt đẹp và niềm tin tưởng ở tương lai.

Phân tích nhân vật người vợ nhăt – Mẫu 2

Làm nên một tác phẩm, nhà văn phải có trách nhiệm là bật nên giá trị hiện thực thông qua nhân vật và cốt truyện của mình. Qua đó, đem đến cho độc giả những cái nhìn, xúc cảm đặc biệt cảm thông cho thời đại lúc bấy giờ. Và Kim Lân, một cây viết chuyên về truyện ngắn, về người nông dân, người tri thức nghèo trong xã hội phong kiến, đã làm được điều đấy. Nếu người ta nhắc về nạn đói, chỉ nhắc về một hiện thực đầy phũ phàng của xã hội lúc đấy, chỉ nhắc về cái chết đói, chết rét của nhân dân, nhưng Kim Lân lại khác. Ông viết về những con người mà “dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”. Trong đó, “Vợ Nhặt” đã thể hiện rõ ràng quan niệm văn chương ấy. Mà tất cả đã được cô đọng trong văn phong và nhân vật Thị của tác phẩm.

Người phụ nữ Việt Nam trong văn học mỗi khi được nhắc đến sẽ rất mong manh, rất yếu đuối vì chịu một sự hà hiếp, sự áp bức của xã hội. Thị, một người đàn bà không tên, không tuổi mà Kim Lân chỉ nhắc tới bằng những đại từ phiếm chỉ. Không rõ ràng và đầy mơ hồ, cũng như số phận của Thị, người đàn bà “nhặt hạt rơi hạt vãi, hay ai có công việc gì gọi đến thì làm”. Thị là bất kì người đàn bà nghèo khổ nào đấy ngoài kia đang bị cái đói, cái khổ bủa vây. Nhắc tới thị bằng hai tiếng “vợ nhặt” sao mà thê lương tới thế. “Vợ” không được cưới hỏi, không được đưa rước về nhà chồng mà là “nhặt” về, lượm về cũng như một món hàng bị rẻ rúng. Kim Lân dường như đã cho thấy giá trị bần cùng, thấp kém của con người trong xã hội vào những năm 1945 ấy. Một thời buổi đầy loạn lạc, bi thương như màu sắc của xóm làng buổi xế chiều “hai bên dày phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa bóng người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như bóng ma”. Khung cảnh đầy thê lương như dâng lên tột bậc với tiếng quạ “cứ gào lên từng hồi”.

Hai lần Thị gặp Tràng đã vẽ nên bức chân dung và cho thấy sự tàn khốc của nạn đói được nhắc đến. Từ một cô gái đầy sức sống “liếc mắt, cười tít…ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng” khi nghe Tràng hò hát vu vơ:

“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”

Mà thoát cái đã “áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Thị đã bị cái đói đầy vào lối cụt, đẩy Thị vào bước đi cuối cùng. Thị bỏ cả cái gọi là danh dự và tôn nghiêm của mình. Thị không mất mặt nữa,”cắm đầu ăn một chập bốn bát bánh đúc, ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng”. Cái đói vắt kiệt cùng sức lực của một con người, mà Thị phải kiếm một con đường mới, một sự sống mới, thế là thị theo Tràng về nhà. Dù rằng “Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật”. Thị không về thì sẽ thế nào? Nhân phẩm, danh dự cũng không cứu nổi Thị, Thị mặc tất cả theo lời nói đùa ngô nghê của Tràng mà Thị cứ tự cho đấy là thật vậy: “Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Không về thì có lẽ những ngày sau, trên phố “người chết như ngả rạ”, trong “ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường” sẽ có Thị. Bởi cái đói cứ như con quỷ dữ, hiện hình cho bọn thực dân đang bóc lột người dân miền Bắc nói riêng, chúng dồn họ vào con đường chết để trục lợi cho mình. Liệu một người đàn bà như Thị có còn sức để chống đối, Kim Lân đã cho Thị con đường sống.

Mà phải chăng chính Thị cũng là một điều tươi đẹp, một tia sáng le lói nhưng làm ánh lên cái đẹp trong bức tranh u ám đấy. Thị theo Tràng về trong con mắt săm soi của những người đàn bà khác: “Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”. “Người đàn bà như cũng biết xung quanh người ta đang nhìn dồn cả về phía mình, Thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia”. Nhưng sự xuất hiện của Thị cũng “có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”. Không còn vẻ “chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”, “Thị có vẻ rón rén, e thẹn…Thị vẫn ngôi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”. Có một chút buồn, một chút thất vọng trong tâm trí Thị, “cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài”. Liệu rằng họ có nuôi nổi Thị hay không?

Nhưng Thị đâu trơ trẽn, đâu như những con người bị bần cùng hóa, thị vẫn là người không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”. Thị gặp mẹ Tràng vẫn chào hỏi, vẫn lễ phép kính cẩn. Thị là con người khéo léo, biết vun vén cho gia đình. Thị là người mang đến sự đổi mới trong nhà Tràng, nhờ có Thị mà Tràng mới cảm nhận được không khí gia đình. “Xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ.Thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn”. Dù bát chè khoán mà mẹ Tràng đưa đầy “đắng ngắt và nghẹn ứ trong cổ”, nhưng thị vẫn không nói gì “điềm nhiên và vào miệng”. Bởi Thị hiểu hoàn cảnh nhà Tràng, thị biết ơn sự cưu mang của mẹ con Tràng dành cho Thị. Nếu không đến ngày cả chè khoán đắng ngắt ấy Thị cũng không có để ăn, sẽ là một cái xác vô danh trên đường đi. “Chưa bao giờ trong nhà này hai mẹ con lại dầm ấm, hòa hợp như thế”, Thị còn giúp Tràng nhìn ra một tương lai tương sáng hơn trong cái không khí, “một nỗi tủi hờn len vào tâm trí con người”. Thị kể cho Tràng nghe cách Việt Minh “phá kho thóc Nhật” chia cho dân nghèo. Điều đó đã làm trong lòng Tràng một ý nghĩ vẩn vơ về “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. Mà có lẽ một ngày nào đó Tràng cũng sẽ góp mặt, một ý nghĩ chợt lóe lên, như cách tia sáng, hơi thở mới mà Kim Lân đưa Thị vào cuộc đời Tràng.

Tóm lại, nhân vật Thị không chỉ đại diện cho một lớp người, cho những sức sống mãnh liệt, khao khát sống tiềm tàng của nhân dân lúc đấy. Thị còn là điểm nhấn, cái nét bút điểm xuyết làm sáng bừng lên giá trị nhân đạo, và cả hiện thực của “Vợ Nhặt”. Kim Lân đã cho thấy tinh thần đùm bọc, cưu mang của người với người, đã bộc lộ cái khát vọng một tổ ấm vẹn tròn của những con người nghèo khổ.

Phân tích nhân vật người vợ nhăt – Mẫu 3

Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công là truyện ngắn “Vợ nhặt”,được in trong tập truyện “Con chó xấu xí”. Đây là tác phẩm mà Kim Lân đã tái hiện thành công bức tranh ảm đạm và khủng khiếp về nạn đói Ất Dậu (1945) của nước ta. Trên cái nền tăm tối và đau thương ấy, nhà văn đã đặt vào đó hình ảnh của nhân vật người vợ nhặt: nghèo đói, bất hạnh nhưng lại có một khát vọng sống mãnh liệt. Điều đó được thể hiện qua việc chị chấp nhận theo không một người đàn ông về làm vợ giữa ngày đói.

Về cảnh ngộ, xuất hiện trong tác phẩm, người vợ nhặt chỉ là một con số không tròn trĩnh: không tên tuổi, không quê hương, không gia đình, không nghề nghiệp… Từ đầu đến cuối tác phẩm chị chỉ được gọi bằng “thị”- một cách gọi phiếm định dành cho chị và tất cả những người phụ nữ có cảnh ngộ và số phận đáng thương và tội nghiệp như chị. Không những vậy, chân dung của người phụ nữ ấy hiện ra ngay từ đầu là những nét không mấy dễ nhìn: đó là hình ảnh của người đàn bà gầy vêu vao, ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, quần áo thì rách như tổ đỉa, sống vất vưởng và chờ đợi may mắn.

Trước khi trở thành vợ Tràng, thị là một người phụ nữ ăn nói chỏng lỏn, táo bạo và liều lĩnh. Lần gặp đầu tiên, thị chủ động làm quen ra đẩy xe bò cho Tràng và “liếc mắt cười tít” với Tràng. Lần gặp thứ hai, thị “sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa nói” và lại còn “đứng cong cớn” trước mặt Tràng. Đã vậy, Thị còn chủ động đòi ăn. Khi được Tràng mời ăn bánh đúc, Thị đã cúi gằm ăn một mạch bốn bát bánh đúc. Ăn xong còn lấy đũa quẹt ngang miệng và khen ngon… Trong đói khát cùng cực, thị gần như đánh mất đi nhân cách, sự tế nhị của con người.

Về đến nhà, trông nếp nhà rẹo rọ của Tràng, thị nén tiếng thở dài, tiếng thở dài chấp nhận bước vào cuộc đời của Tràng. Tiếng thở dài thất vọng vì hoàn cảnh của Tràng cũng chẳng có gì khá hơn thị. Tràng đau chỉ nghèo mà còn có mẹ già, còn phải lo toan, biết có cưu mang thị nổi hay không, hay có thể sẽ khiến cuộc đời của thị thêm khổ. Hành động khép nép, tay vân vê tà áo khi đứng trước mặt bà cụ Tứ, thị thật đáng thương. Ở sâu thẳm bên trong con người này vẫn có một niềm khát khao mái ấm gia đình thực sự, bởi thế thị quyết định gắn kết với tràng, trở thành một phần trong gia đình, bất chấp ngày mai ra sao.

Có thể nói, tất cả những biểu hiện trên của thị suy cho cùng cũng là vì đói. Cái đói trong một lúc nào đó nó có thể làm biến dạng tính cách của con người. Nói điều này, chắc chắn nhà văn thật sự xót xa và cảm thông cho cảnh ngộ đói nghèo của người lao động. Khi trở thành vợ Tràng, thị đã trở về với chính con người thật của mình là một người đàn bà hiền thục, e lệ, lễ phép, đảm đang. Điều đó được thể hiện qua dáng vẻ bẽn lẽn đến tội nghiệp của thị khi bên Tràng vào lúc trời chạng vạng. Thị ngượng ngùng đi sau Tràng ba bốn bước, cái nón rách che nghiêng, “rón rén, e thẹn, ngượng nghịu,“chân nọ bước díu cả vào chân kia”… . Lúc này, trông thị thật tội nghiệp, cảnh cô dâu mới theo chồng về nhà: một cảnh đưa dâu không xe hoa, chẳng pháo cưới mà chỉ thấy những khuôn mặt hốc hác u tối của những người trong xóm và âm thanh của tiếng quạ, tiếng khóc hờ người chết tang thương… Hành trang bước đến với hạnh phúc của thị là cả cuộc đời đen tối và nỗi lo sợ không thể nói nên lời.

Thế nhưng, có cái gì đó thật mới mẻ đã làm thay đổi người đàn bà ấy. Sau một ngày làm vợ, chị dậy thật sớm, quét tước, dọn dẹp cho căn nhà khang trang, sạch sẽ. Đó là hình ảnh của một người đàn bà hiền hậu, đúng mực, một người vợ biết lo toan, thu vén cho cuộc sống gia đình chứ không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn nữa.. Thị hiện rõ là một người vợ hiền, một cô dâu thảo. Cuộc sống có cái gì đó khởi sắc mà không ai có thể lí giải được.

Trong bữa cơm cưới giữa ngày đói, bà cụ Tứ dành hết tình cảm cho con dâu mới. Chị tỏ ra là một phụ nữ am hiểu về thời sự khi kể cho mẹ và chồng về câu chuyện ở Bắc Giang người ta đi phá kho thóc của Nhật. Chính chị đã làm cho niềm hy vọng của mẹ và chồng thêm niềm hy vọng vào sự đổi đời trong tương lai.

Qua hình tượng người vợ nhặt, nhà văn đã mạnh mẽ lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp; đồng thời bày tỏ thái độ đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ; thái độ trân trọng tấm lòng nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc bình dị những người lao động nghèo; trong lao khổ họ vẫn thương yêu đùm bọc, và cùng nhau vun đắp hạnh phúc để vượt qua những thử thách khắc nghiệt.

Tóm lại, người phụ nữ không tên tuổi, không gia đình, không tên gọi, không người thân ấy đã thật sự đổi đời bằng chính tấm lòng giàu tình nhân ái của Tràng và mẹ Tràng. Bóng dáng của thị hiện ra tuy không lộng lẫy nhưng lại gợi nên sự ấm áp về cuộc sống gia đình. Phải chăng thị đã mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tăm tối của những người nghèo khổ bên bờ của cái chết….

Phân tích nhân vật vợ nhặt – Mẫu 4

Kim Lân là một hiện tượng trong làng văn học Việt Nam thế kỉ XX. Ông viết không nhiều nhưng tác phẩm nào cũng xuất sắc. Người đọc nhận thấy trong trang văn của ông một tinh thần lạc quan của con người, cốt lõi khát vọng cháy bỏng về cuộc sống tốt đẹp của con người trong bất cứ hoàn cảnh nào ngay cả khi cận kề với cái chết, cái đói. Những trang viết của Kim Lân về đề tài nông thôn trước cách mạng hấp dẫn người đọc bởi tính nhân bản. Ngay cả khi con người phải sống trong cảnh khốn cùng, bi đát nhất của trận đói, cuộc sống mấp mé giữa sự sống và cái chết, này văn vẫn nhận thấy ở họ lòng yêu đời, ham sống. Sức sống ấy thể hiện đậm nét qua nhân vật người “vợ nhặt” trong tác phẩm Vợ nhặt của ông.

Dưới ngòi bút của Kim Lân, người vợ nhặt là người phụ nữ vô danh, không tên không tuổi, không quê hương, không quá khứ. Không phải là nhà văn nghèo ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho thị một cái tên mà bởi vì thị là cánh bèo nổi trôi trong nạn đói, là người đàn bà vô danh. Từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật này chỉ được gọi là “cô ả”, “thị”, “người đàn bà”, “nàng dâu mới”, “nhà tôi”. Nhưng nhân vật này để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.

Lần đầu thị xuất hiện là hình ảnh: ngồi lẫn trong đám con gái chờ nhặt hạt rơi hạt vãi trước cổng chợ tỉnh. Khi nghe Tràng hò một câu chơi cho đỡ nhọc “Muốn ăn cơm trắng mấy giò/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh”, Thị “ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng…cười tít mắt”. Thị đẩy xe với hi vọng được ăn nên cũng rất nhiệt tình và chẳng cần ý tứ.

Lần thứ hai, thị xuất hiện với ngoại hình kém hấp dẫn: Đó là người phụ nữ gầy vêu vao, “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt” nổi bật với “hai con mắt trũng hoáy”. Có thể nói, cái đói đã khiến thị càng nhếch nhác, tội nghiệp lại càng nhếch nhác, tội nghiệp hơn nữa. Cái đói không chỉ tàn hại dung nhan của thị mà còn tàn hại cả tính cách, nhân phẩm.

Vì đói mà thị trở nên “chao chát”, “chỏng lỏn”, “chua ngoa, đanh đá”. Thị “cong cớn”, “sưng sỉa” khi giao tiếp, nói chuyện.

Cái đói khiến thị quên cả việc phải giữ ý tứ, lòng tự trọng của người con gái. Thị cứ thế mà đòi ăn. Được cho ăn, thị sẵn sàng “sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Thị đã đặt sự tồn tại của mình, đặt miếng ăn lên trên nhân cách.

Khi anh cu Tràng hay đùa, lại đùa “có muốn theo tớ về nhà thì ra khuân đồ lên xe rồi ta cùng về”. Thì người đàn bà kia lại im lặng (mà thường tâm lý im lặng là đồng ý). Thị đồng ý, đồng ý mà không hề do dự, phân vân. Trong khi đó, Tràng là ai, tốt xấu như thế nào? gốc tích ra sao? Thị nào hay nào biết. Chỉ mấy bát bánh đúc là thị có thể theo ngay Tràng. Phải chăng thị theo Tràng chỉ vì miếng ăn ? Thị dễ dàng, hời hợt thế ư? Thực ra hành động theo Tràng của thị xuất phát từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ lòng khao khát được sống. Thị bất chấp tất cả để được ăn, ăn để được tồn tại. Thị chấp nhận theo không Tràng. Đó là ý thức bám lấy sự sống.

Cận kề bên cái chết, người đàn bà không hề buông xuôi sự sống. Trái lại, thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng xây mái ấm gia đình. Niềm lạc quan yêu sống của thị chính là một phẩm chất rất đáng quý. Nói như Kim Lân: ” Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”.

Trên đường về nhà chồng tâm trạng của thị có sự thay đổi rõ nét. Nếu như anh cu Tràng sung sướng, tự mãn, cái mặt vênh lên tự đắc với mình thì người đàn bà lại cảm thấy xấu hổ. Trước cái nhìn “săm soi”, trước những lời bông đùa, chòng ghẹo của người dân ngụ cư. Thị ngượng nghịu, thiếu tự tin “chân nọ bước díu cả vào chân kia… cái nón rách tàng che nửa khuôn mặt”.

Về đến nhà chồng, nhìn thấy“ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, thị “nén một tiếng thở dài”. Đây là tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng nhưng cũng là sự chấp nhận. Ai ngờ cái phao mà thị vừa bám vào lại là một chiếc phao rách. Trong tiếng thở dài đó vừa có sự lo lắng cho tương lai ngày mai, vừa có cả những lo toan và trách nhiệm của thị về gia cảnh nhà chồng. Đó phải chăng là thị đã ý thức được trách của mình đối với việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình. Tấm lòng của thị thật đáng quý biết bao.

Vào trong nhà, thị e thẹn, dè dặt “ngồi mớm” vào mép giường (“Ngồi mớm” thế ngồi bấp bênh, không ổn định nhưng cũng rất ý tứ). Thị ý tứ, cung kính, lễ phép chào bà cụ Tứ (chào đến hai lần). Đây là hình ảnh đẹp của người con dâu rất mực thước trong quan hệ với mẹ chồng. Khi Tràng thưa chuyện với mẹ, thị chỉ biết “đứng vân vê tà áo đã rách bợt”.

Sau đêm tân hôn, người phụ nữ ấy có sự thay đổi hoàn toàn về tâm trạng và tính cách. Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa. Sự thay đổi ấy người đọc cũng dễ nhận ra: nếu hôm qua Thị chua ngoa, đanh đá, chỏng lỏn bao nhiêu thì hôm nay thị lại hiền lành bấy nhiêu. Hơn ai hết, Tràng cảm nhận đầy đủ sự thay đổi tuyệt vời ấy: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”. Câu văn này đã ghi lại cảm xúc chân thật của Tràng trước sự đổi thay tích cực của vợ. Phải chăng tình yêu đích thực với sức nhiệm màu diệu kì đã có sức cảm hóa với thị.

Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng Thị vẫn vui vẻ, bằng lòng. Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ to lắm”. Qua đó, ta thấy nhân vật vợ Tràng, “nàng dâu mới” cũng là Người truyền tin cách mạng.

Viết về sự đổi thay trong tâm lý của thị, Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động nghèo. Tình cảm nhân đạo của nhà văn thể hiện ở đây. Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Xây dựng nhân vật người vợ nhặt, nhà văn đã đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo; diễn biến tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phù hợp với tính cách nhân vật. Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn, kịch tính…

Tóm lại, người “vợ nhặt” là một sáng tạo độc đáo của Kim Lân. Thông qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Con người Việt Nam dù sống trong hoàn cảnh khốn cùng nào cũng sẽ luôn hướng về tương lai với niềm tin mãnh liệt vào sự sống.

Phân tích nhân vật vợ nhặt – Mẫu 5

Trong tác phẩm Vợ nhặt người vợ không thực sự được khai thác nhiều. Nhưng với nhân vật này, Kim Lân cũng gửi đến những thông điệp đầy ý nghĩa và nhân văn, thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả.

Người vợ nhặt được xây dựng là người phụ nữ nghèo khổ, cơ cực, túng quẫn. Thị không có bất cứ gia sản gì, ngay cả cái tên cũng không có, thị chỉ được gọi một cách chung chung và đầy rẻ rúng là vợ nhặt. Thị không có nhà cửa, hai lần gặp Tràng chỉ thấy thị vất vưởng nơi đầu đường, xó chợ. Thị không có họ hàng, không có nghề nghiệp. Trong hoàn cảnh toàn dân Việt Nam đang phải oằn mình chống lại nạn đói, thị không có bất cứ một chỗ dựa nào, thị sống trong sự dồn đuổi của cái chết, hàng ngày, hàng giờ, cái đói đã biến thị trở nên xanh xao, hốc hác, gò má cao, không còn chút sự sống.

Chính hoàn cảnh bị đẩy đến bước đường cùng, đã khiến cho thị đánh mất lòng tự trọng của bản thân. Nỗi ám ảnh về cái đói, cái chết không chỉ vắt kiệt sự sống của người đàn bà nghèo mà còn xói mòn nhân cách, nhân phẩm của thị, nó được thể hiện rõ qua hai lần gặp gỡ với Tràng. Lần thứ nhất, gặp Tràng vốn là người không quen biết, chỉ vì một câu hò vu vơ, Thị đang ton ton chạy ra, híp mắt cười tình, rồi đẩy xe bò cho Tràng. Mãnh lực của miếng ăn quá lớn, khiến thị đánh mất sự e dè, thẹn thùng vốn có.

Lần thứ hai gặp lại sự trơ trẽn, vô duyên đã đánh mất cả lòng tự trọng. Sau lần gặp gỡ đầu, không có bất cứ một lời hẹn ước nào, nhưng khi gặp lại Tràng, thi sầm sập chạy đến, đứng trước mặt mà nói: “Điêu! Điêu. Người thế mà điêu”. Và chỉ đến khi nhận được lời mời cho đi ăn, thì thị không còn chút ý tứ, ngồi xuống cắm đầu ăn một chặp hết bốn bát bánh đúc. Những câu văn ngắn diễn tả hành động ăn uống thô tục, lỗ mãng của thị. Nỗi ám ảnh của cái đói đã khiến thị trở nên táo bạo, liều lĩnh. Nhân cách, lòng tự trọng là đáng quý nhất với con người đã bị bán rẻ vì miếng ăn. Đó là hiện thực đau xót mà không chỉ cô vợ nhặt mới vậy, mà rất nhiều người dân Việt Nam đã rơi vào tình cảnh này. Và liều lĩnh nhất là chỉ một câu nói đùa của Tràng, cô đã theo anh về làm vợ. Trong hoàn cảnh không còn đâu để bấu víu, thì dù có là vợ nhặt cô cũng chấp nhận để thoát khỏi sự truy đuổi của thần chết.

Cũng như nhân vật Tràng, sau khi lập gia đình, người vợ nhặt đã có sự thay đổi vô cùng lớn. Đầu tiên là sự thay đổi tâm lí, tính cách, trên đường về nhà, trước sự để ý của những người dân, thị cắp cái thúng con, e dè, ngại ngùng đi cạnh Tràng. Những biểu hiện ở dáng điệu đó cho thấy sự xấu hổ, ngượng ngùng trong tâm lí của thị. Đó cũng là biểu hiện đầu tiên đánh dấu sự trở lại của nữ tính, sự trơ trẽn, chỏng lỏn đã không còn. Trong lòng cô vợ nhặt còn dấy lên niềm lo lắng cho tương lai. Về đến nhà, nhìn thấy ngôi nhà xiêu vẹo, đầy những cỏ dại vây xung quanh, cái ngực lép của thị nhô lên, nén một tiếng thở dài. Vào đến nhà, cô ngồi ghé ở mép giường, tay ôm chặt cái thúng.

Trước mặt mẹ chồng, cô lễ phép chào hỏi, tay mân mê tà áo đã rách bợt đi. Những hành động, cử chỉ của thị thể hiện một tâm lí dễ hiểu đó là sự e thẹn khi lần đầu tiền đối diện với mẹ chồng. Song cũng bộc lộ phần nào sự lễ phép, dịu dàng trong cách giao tiếp với người lớn tuổi. Những biểu hiện này một lần nữa cho thấy, cái chỏng lỏn chỉ là sản phẩm của sự xô đẩy của hoàn cảnh, còn trong thẳm sâu bản chất thì vẫn là tâm hồn đầy nữ tính.

Sự thay đổi rõ nhất trong tính cách chính là buổi sáng đầu tiên sau khi thị lấy chồng. Qua cái nhìn của nhân vật Tràng, thị hôm nay đã khắc hẳn, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không còn chao chát, chỏng lỏn như mấy lần gặp ngoài tỉnh. Những thay đổi trong cảm nhận của Tràng xuất phát từ những việc làm hết sức giản dị mà ý nghĩa mà cô vợ nhặt đã làm: dậy sớm, cùng mẹ dọn dẹp, quét tước nhà cửa,… Thị đã đem đến màu sắc tươi sáng vào căn nhà lạnh lẽo, u ám của Tràng. Tất cả những hành động đó cho thấy sự đảm đang, tháo vát của cô cùng cho thấy thị thực sự yêu thương, trân trọng tổ ấm gia đình, và có khát vọng mãnh liệt vào hạnh phúc gia đình.

Không chỉ biến chuyển trong tính cách mà thị còn có sự biến chuyển trong nhận thức. Hạnh phúc đối với người vợ nhặt quả không hề dễ dàng, bởi sự dồn đổi của cái đói và cái chết. Đêm tân hôn của hai vợ chồng cũng phải diễn ra trong tiếng khóc tỉ tê của những gia đình có người chết. Bữa cơm đầu tiên đón cô dâu mới là nồi cháo cám mặn chát, lõng bõng là nước. Nhưng chính lúc ấy, trong tâm hồn thị vẫn có niềm tin mãnh liệt vào tương lai.

Không phải ngẫu nhiên, trong ba nhân vật Kim Lân lại chọn thị chứ không phải hai nhân vật còn lại nói về khởi nghĩa, phá kho thóc Nhật. Có lẽ bởi một người dám đánh đổi tất cả, kể cả trở thành vợ nhất để được sống, thì khát vọng sống, hạnh phúc ở họ là không thể hủy diệt. Dù không nói rõ về tương lai, nhưng ở một con người ham sống, ở một tinh thần khỏe khoắn như người vợ nhặt, Kim Lân cho thấy tinh thần hăng hái, chắc chắn Thị sẽ theo cách mạng.

Nhân vật người vợ nhặt được Kim Lân đặt vào tình huống hết sức độc đáo, từ đó nhân vật bộc lộ tâm trạng, cách hành xử của bản thân. Nhân vật được tập trung khắc họa ở cử chỉ, hành động qua đó làm bật lên vẻ đẹp của người vợ nhật.

Bằng ngòi bút tin yêu và trân trọng, Kim Lân đã dựng lên một chân dung bất hủ của văn học. Người vợ nhặt chính là nạn nhân tiêu biểu nhất của nạn đói năm 1945, nạn đói đã làm nhòe mờ nhân cách, lòng tự trọng của nhân vật. Nhưng ẩn sâu trong con người ấy vẫn là một người phụ nữ đầy dịu dàng, nữ tính, biết vun vén và có khao khát hạnh phúc mãnh liệt, đồng thời cũng là người có niềm tin mãnh liệt vào tương lai.

Phân tích nhân vật vợ nhặt – Mẫu 6

Ai đó từng nói rằng “ Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả sau lưng bạn”. Bởi nói như nhà văn Nguyễn Khải “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc bắt nguồn từ những gian khổ hy sinh. Ở đời không có con đường cùng chỉ có những ranh giới điều cốt yếu là phải có đủ sức mạnh để bước qua ranh giới đó”. Đọc truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân ta càng hiểu sâu sắc và thấm thía hơn chân lý đó. Ta không khỏi xót xa, ngậm ngùi thương cho hoàn cảnh éo le, mừng vui cho niềm tin của con người vào tương lai mới mà còn rưng rức trước tình cảm yêu thương của hơi ấm gia đình.Vậy điều đó thể hiện như thế nào qua hình ảnh nhân vật Thị?

Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân được viết trên nền cái đói của năm 1945. Chân dung nhân vật Tràng được Kim Lân miêu tả có ngoại hình thô kệch, xấu xí với công việc làm thuê ngật ngưỡng bước ra trong đói nghèo ấy. Thị, cô gái kém duyên đang vật lộn với cái đói. Hai người họ gặp nhau vỏn vẹn có hai lần rồi thành đôi chỉ bằng bát bánh đúc với vài câu bông đùa. Tràng dẫn Thị về trong cái nắng chiều chạng vạng trước sự bất ngờ của tất cả người dân xóm ngụ cư. Bà cụ Tứ- mẹ Tràng nhìn nàng dâu mới mà lo cho con liệu có đùm bọc nhau trong cảnh nghèo, lại mừng vui hạnh phúc vì khó khăn hay đói khổ cũng không ngăn đôi lứa nên duyên. Họ cùng nhau vun vén cửa nhà, san sẻ từng bữa ăn. Trong hạnh phúc ấy, câu chuyện khép lại với hình ảnh nhân dân phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong óc Tràng.

Thị là nhân vật mang đầy đủ những nét tiêu biểu của người lao động nghèo trong nạn đói khủng khiếp. Dưới ngòi bút của Kim Lân, chân dung Thị hiện lên như một con ma đói, áo quần luộm thuộm, gương mặt lấm lem với “cái ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”, không có nổi cái tên mà vỏn vẹn chữ “Thị”. Cô gái đói đến độ phải nhặt đồ rơi vãi, nghe ba câu hò mà vội chạy đến đẩy xe bò. Thị gặp Tràng nhưng không ăn trầu mà ăn bánh đúc rồi quẹt đũa ngang miệng “chà ngon”. Ta chỉ thấy chân dung Thị chao chát, chỏng lỏn. Vậy nhưng qua ngòi bút đầy tài năng của tác giả, người vợ anh Tràng hiện lên có cong cớn, rất cong cớn nhưng không nanh nọc và tính cách ấy phải chăng do dốt nát, đói nghèo, tăm tối chứ tuyệt nhiên không sinh ra từ cái ác, cái xấu. Nhân vật Thị hiện lên chua xót hơn khi cuộc hôn nhân cả đời người cũng chỉ bắt đầu bằng vài ba câu tầm phào của Tràng mà khiến người đàn bà quên hết sĩ diện, nết na, đức hạnh để xà xuống ăn hết bát bánh đúc, theo Tràng về làm vợ mà không dò hết ngọn ngành nguồn sông. Chính cái đói đã khiến thân phận con người bọt bèo, rẻ mạt đến vậy.

Khi gặp Tràng thì đanh đá, chỏng lỏn nhưng khi về làm dâu, Thị lại là người vợ đảm đang, con dâu hiếu thảo. Thị theo Tràng về như đến một chốn có thể nương tựa trong cái đói đang rình rập. Trên con đường về nhà Tràng, cô Thị đanh đá bỗng trở nên dịu dàng, e dè, ngượng ngập. Đôi mắt tư lự khi bỡ ngỡ đặt chân đến ngôi nhà mới, dáng điệu khép nép ngồi và câu chào lúng túng…tất cả làm cho Thị có cảm giác của một nàng dâu mới. Từ khi làm vợ, Thị đảm đang và dịu dàng hơn cả, cô cùng mẹ sửa sang cửa nhà, dọn dẹp vườn tược và vui vẻ trong bữa ăn loãng thếch, đắng chát. Thị kể về câu chuyện những người cướp kho thóc Nhật với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng phấp phới. Chính nó làm lóe lên ánh sáng tia hy vọng về tương lai mới, mở ra con đường đấu tranh đi đến Cách mạng. Rõ ràng, Thị dần dần nhận được đủ đầy cảm xúc từ chữ “tình”, có ý thức về bổn phận và trách nhiệm của mình. Quả đúng, dù trong túng đói tột cùng thì tình cảm vẫn quý hơn manh áo bởi nó khiến con người được sống là chính mình, được nên người.

Truyện ngắn Vợ nhặt là lời kết tội đanh thép đối với thực dân Pháp và phát-xít Nhật cùng bọn phong kiến tay sai đã đẩy con người vào thảm cảnh chết đói khủng khiếp, mạng người như cỏ rác. Không chỉ vậy, Vợ nhặt còn mang ý nghĩa nhân bản sâu xa rằng dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết, con người vẫn yêu thương, trân trọng, đùm bọc lẫn nhau, vẫn khát khao hạnh phúc, muốn sống như một con người, sống nên người.

Nam Cao từng nói “Một người đàn bà thật xấu khi yêu cũng lườm”, nó quả đúng với nhân vật Thị trong Vợ nhặt. Tôi nghĩ, đó là cái lườm yêu của cô Thị không chỉ thật xấu mà còn thật rách và còn thật đói. Nhưng có lẽ khi đong đưa con mắt, Tràng và Thị, họ đã quên đi cuộc sống ở cõi trần đang mấp mé bờ vực cõi âm, cõi âm như hòa với cõi trần, để chỉ còn nhớ đến sự thương yêu. Thật trân trọng và cảm phục biết bao trước những giản dị của hạnh phúc của đời thường!

Phân tích nhân vật vợ nhặt – Mẫu 7

Nhà giáo Trần Đồng Minh từng có nhận xét rất tinh tế: “Nhà văn dùng Vợ nhặt để làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu chuyện Vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng”. Và phải chăng “những tia sáng ấm lòng” ấy chính là tình yêu thương, là sức sống mãnh liệt của các nhân vật bị đẩy tới đường cùng tuyệt lộ buộc phải đối mặt với cái chết nhưng lại biết cách tỏa sáng để nâng tầm giá trị của con người. Bằng óc quan sát tinh tế và tấm lòng đồng cảm sâu sắc với số phận con người, Kim Lân đã thực sự làm bạn đọc xúc động khi xây dựng thành công hình tượng nhân vật Thị và qua đó thể hiện rất rõ số phận của người phụ nữ trong tác phẩm.

Vợ Nhặt được tác giả Kim Lân lấy chính hiện thực xã hội của nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm chủ đề và tác phẩm cũng đã lột tả được hết thực trạng ấy một cách chi tiết, sống động và đầy giá trị.

Tác phẩm được in trong tập Con chó xấu xí và sau khi xuất bản đã gây một tiếng vang lớn đối với người đọc đặt biệt là những tình tiết éo le, nhưng cũng đầy cảm động của truyện. Ở đó hiện lên hiện thực của xã hội khi mà người ta sẵn sàng bỏ qua nhân phẩm, tư cách của chính bản thân mình vì miếng ăn vì cái đói. Và nổi bật đó là nhân vật Thị người Vợ Nhặt đặc biệt. Nhưng ở đó là ý nghĩa và giá trị mà tác giả muốn gửi gắm.

Dưới ngòi bút của Kim Lân, người vợ nhặt là người phụ nữ vô danh, không tên không tuổi, không quê hương, không quá khứ. Không phải là nhà văn nghèo ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho thị một cái tên mà bởi vì thị là cánh bèo nổi trôi trong nạn đói, là người đàn bà vô danh. Từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật này chỉ được gọi là “cô ả”, “thị”, “người đàn bà”, “nàng dâu mới”, “nhà tôi”. Nhưng nhân vật này để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.

Thị xuất hiện vừa bằng ngoại hình vừa bằng tính cách của một con người năm đói:

Lần đầu thị xuất hiện là hình ảnh: ngồi lẫn trong đám con gái chờ nhặt hạt rơi hạt vãi trước cổng chợ tỉnh. Khi nghe Tràng hò một câu chơi cho đỡ nhọc “Muốn ăn cơm trắng mấy giò/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh”, thị “ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng…cười tít mắt”. Thị đẩy xe với hi vọng được ăn nên cũng rất nhiệt tình và chẳng cần ý tứ.

Lần thứ hai, thị xuất hiện với ngoại hình kém hấp dẫn: Đó là người phụ nữ gầy vêu vao, “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt” nổi bật với “hai con mắt trũng hoáy”. Có thể nói, cái đói đã khiến thị càng nhếch nhác, tội nghiệp lại càng nhếch nhác, tội nghiệp hơn nữa. Cái đói không chỉ tàn hại dung nhan của thị mà còn tàn hại cả tính cách, nhân phẩm. Vì đói mà thị trở nên “chao chát”, “chỏng lỏn”, “chua ngoa, đanh đá”. Thị “cong cớn”, “sưng sỉa” khi giao tiếp, nói chuyện. Cái đói khiến thị quên cả việc phải giữ ý tứ, lòng tự trọng của người con gái. Thị cứ thế mà đòi ăn. Được cho ăn, thị sẵn sàng “sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Thị đã đặt sự tồn tại của mình, đặt miếng ăn lên trên nhân cách.

Khi anh cu Tràng hay đùa, lại đùa “có muốn theo tớ về nhà thì ra khuân đồ lên xe rồi ta cùng về”. Thì người đàn bà kia lại im lặng (mà thường tâm lý im lặng là đồng ý). Thị đồng ý, đồng ý mà không hề do dự, phân vân. Trong khi đó, Tràng là ai, tốt xấu như thế nào? gốc tích ra sao? Thị nào hay nào biết. Chỉ mấy bát bánh đúc là thị có thể theo ngay Tràng. Phải chăng thị theo Tràng chỉ vì miếng ăn ?

Thị dễ dàng, hời hợt thế ư? Thực ra hành động theo Tràng của thị xuất phát từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ lòng khao khát được sống. Thị bất chấp tất cả để được ăn, ăn để được tồn tại. Thị chấp nhận theo không Tràng.

Đó là ý thức bám lấy sự sống. Cận kề bên cái chết, người đàn bà không hề buông xuôi sự sống. Trái lại, thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng xây mái ấm gia đình. Niềm lạc quan yêu sống của thị chính là một phẩm chất rất đáng quý.

Nói như Kim Lân: ” Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”.

Trên đường về nhà chồng tâm trạng của thị có sự thay đổi rõ nét. Nếu như anh cu Tràng sung sướng, tự mãn, cái mặt vênh lên tự đắc với mình thì người đàn bà lại cảm thấy xấu hổ.

Trước cái nhìn “săm soi”, trước những lời bông đùa, chòng ghẹo của người dân ngụ cư. Thị ngượng nghịu, thiếu tự tin “chân nọ bước díu cả vào chân kia… cái nón rách tàng che nửa khuôn mặt”.

Về đến nhà chồng, nhìn thấy“ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, thị “nén một tiếng thở dài”. Đây là tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng nhưng cũng là sự chấp nhận.

Nghi ngờ cái phao mà thị vừa bám vào lại là một chiếc phao rách. Trong tiếng thở dài đó vừa có sự lo lắng cho tương lai ngày mai, vừa có cả những lo toan và trách nhiệm của thị về gia cảnh nhà chồng. Đó phải chăng là thị đã ý thức được trách của mình đối với việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình. Tấm lòng của thị thật đáng quý biết bao.

Vào trong nhà, thị e thẹn, dè dặt “ngồi mớm” vào mép giường (“Ngồi mớm” thế ngồi bấp bênh, không ổn định nhưng cũng rất ý tứ). Thị ý tứ, cung kính, lễ phép chào bà cụ Tứ (chào đến hai lần). Đây là hình ảnh đẹp của người con dâu rất mực thước trong quan hệ với mẹ chồng. Khi Tràng thưa chuyện với mẹ, thị chỉ biết “đứng vân vê tà áo đã rách bợt”.

Sau đêm tân hôn, người phụ nữ ấy có sự thay đổi hoàn toàn về tâm trạng và tính cách. Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa. Sự thay đổi ấy người đọc cũng dễ nhận ra: nếu hôm qua thị chua ngoa, đanh đá, chỏng lỏn bao nhiêu thì hôm nay thị lại hiền lành bấy nhiêu.

Hơn ai hết, Tràng cảm nhận đầy đủ sự thay đổi tuyệt vời ấy: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”.

Câu văn này đã ghi lại cảm xúc chân thật của Tràng trước sự đổi thay tích cực của vợ. Phải chăng tình yêu đích thực với sức nhiệm màu diệu kì đã có sức cảm hóa với thị.

Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ, bằng lòng. Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng.

Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”.

Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ to lắm”. Qua đó, ta thấy nhân vật vợ Tràng, “nàng dâu mới” cũng là Người truyền tin cách mạng.

Viết về sự đổi thay trong tâm lý của thị, Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động nghèo. Tình cảm nhân đạo của nhà văn thể hiện ở đây.

Xây dựng nhân vật người vợ nhặt, nhà văn đã đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo; diễn biến tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phù hợp với tính cách nhân vật. Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn, kịch tính…

Tóm lại, người “vợ nhặt” là một sáng tạo của Kim Lân. Thông qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Con người Việt Nam dù sống trong hoàn cảnh khốn cùng nào cũng sẽ luôn hướng về tương lai với niềm tin vào sự sống.

Cái đẹp cứu vớt con người” (Đôx-tôi-ep-ki). Vâng, “vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là con nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là vẻ đẹp của con người mà ở đây là người nhân vật Thị. Dù là nạn nhân của nạn đói nhưng ở Thị vẫn có đầy đủ những phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam. Đó là sự chân trọng và tôn vinh của chính tác giả.

Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 8

Nhà văn Kim Lân, tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 1-8-1920, tại thôn Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh,là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX. Sự nghiệp văn học của ông tuy không đồ sộ nhưng lại rất đặc sắc và khó trộn lẫn.Một số truyện ngắn của ông được xếp vào hàng kinh điển trong văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX như Vợ nhặt, Làng, Con chó xấu xí…

Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, ”người chết như ngả ra, không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói đang hoành hành, đời sống nhân dân thê thảm.Tác phẩm Vợ nhặt xoay quanh câu chuyện của ba người trong một gia đình ngụ cư. Điều lạ là một người làm nên chính cái tên của truyện lại không có tên, không biết tuổi. Đó chính là vợ Tràng. Người phụ nữ ấy chỉ là một trong số hàng ngàn, hàng vạn thân phận phụ nữ cùng thời. Do đó, người ấy rất rễ bị lãng quên, ít ai chú ý tới nhưng với nhà văn đó là một số phận không thể bỏ qua, một số phận gây nhức nhối, trăn trở. Sự hấp dẫn của nhân vật nữ này phải chăng là từ một người trong cõi mù mịt, không đâu vào đâu trở thành một nàng dâu hiền thục của bà cụ Tứ?

Vợ Tràng là người đàn bà không rõ lai lịch, không có gia đình, không có nhà cửa. Cô ta thậm chí không có tên và khi xuất hiện lúc được gọi là thị, là cô ả, lúc là người đàn bà. Chỉ có bà cụ Tứ xem vợ Tràng là nàng dâu, con dâu, là con và được Tràng gọi là nhà tôi mà thôi. Trước khi về nhà bà cụ Tứ, cô ta cùng với mấy chị con gái ngồi vêu ra ở cửa nhà kho thóc Liên đoàn chờ nhặt hạt rơi, hạt vãi, hay ai có công việc gì gọi đến thì làm. Trong nạn đói hồi ấy, thân phận con người thật rẻ rúng. Đâu phải vợ Tràng mới là người không tên, không tuổi, còn biết bao chị gái như thế.

Khi mới gặp Tràng,Thị là người đanh đá, táo bạo tới mức trở nên trơ trẽn. Nghe anh chàng phu xe hò một câu cho đỡ nhọc (Muốn ăn cơm trắng mấy giò này / Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì), thị đã cong cớn bám lấy rồi vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng. Gặp lần thứ hai, khi Tràng vừa trả hàng xong, thị đâu xầm xầm chạy đến. Thị đứng trước mặt mà xưng xỉa nói: Điêu! Người thế mà điêu! Khi thấy anh Tràng có vẻ dễ bắt choẹt, thị tiếp tục cong cớn. Thấy có miếng ăn, hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên rồi thị ngồi sà xuống ăn như chết đói. Thị cắm đầu ăn một chạp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong, thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng mà khen TTTD.VNải chăng đấy là tính cách cốn có của người đàn bà này? Không, từ đầu đến lúc theo Tràng về nhà, người phụ nữ ấy hành động hoàn toàn theo bản năng của mình. Thị làm tất cả chỉ để có được miếng ăn.

Khi đã chấp nhận làm vợ của Tràng,trên con đường trở về nhà của Tràng, thị thay đổi hẳn. Trong khi Tràng mặt có một vẻ gì hớn hở khác thường, hay tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh, thì thị lại đi sau hắn chừng ba bốn chục thước, cắp cái thúng con, cái nón tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa khuôn mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn. Rõ ràng so với người đàn bà mới ban trưa, bây giờ thị đã là một con người khác. Ban trưa, lúc ở ngoài chợ, thị sấn sổ, cong cớn để được ăn, còn bây giờ, thị đang về nhà chồng. Vả lại, thị bắt đầu ý thức về thân phận của mình, là người vợ theo không. Té ra, thị chẳng có chút quyền uy nào, kể cả quyền lựa chọn và đành chấp nhận thuận theo số phận khi đã đến bước đường cùng.

Tuy nhiên, dù cố đấm ăn xôi đi nữa, thị vẫn là người có ý thức về giá trị của bản thân. Trên đường về nhà chồng, khi anh Tràng lấy làm thích thú trước cảnh lũ trẻ con chọc ghẹo, thì thị có vẻ rất khó chịu lắm, đôi lông mày nhíu lại, đưa tay lên xóc lại tà áo. Trẻ con nghịch ngợm chọc ghẹo còn được, đằng này đến người lớn cũng tò mò, thị càng ngượng và xấu hổ, chân nọ díu cả vào chân kia. Anh Tràng đến là vô tư, cứ lấy vợ vậy làm thích thú. Thị càu nhàu trong miệng và lầm lũi đi đến nỗi đi nhầm đường. Thị mong sớm đến nhà “chồng” để tránh sự dòm ngó của mọi người xung quanh.

Về nhà của Tràng, thị càng khác hơn. Người đàn bà ấy có cái tò mò bẽn lẽn của nàng dâu mới. Thị đảo mắt nhìn chung quanh. Quả là nghèo quá, nghèo xơ xác. Thị nén tiếng thở dài. Anh Tràng muốn vợ mình được tự nhiên, cứ giục vợ ngồi, nhưng thị chỉ dám ngồi mớm xuống mép giường. Khi bà cụ Tứ về, người đàn bà ấy chủ động chào bà bằng u. Trước mặt người mẹ chồng, thị càng rụt rè sợ sệt, vẫn đứng nguyên chỗ cũ, khẽ nhúc nhích. Chính thái độ ấy cùng hoàn cảnh của thị đã khiến bà cụ Tứ , trái với sự dò xét thông thường của những người mẹ chồng đối với nàng dâu, bà nhìn thị lòng đầy thương xót. Bà nhanh chóng đón nhận thị là dâu dù chỉ mấy phút trước đó cả hai đều hoàn toàn xa lạ.Sáng ngày hôm sau, thị đã trở thành người vợ đảm đang. Cùng với bà cụ Tứ, thị thức dậy sớm, lo dọn dẹp nhà cửa, quét tước sân vườn sạch sẽ. Người vô tâm như anh Tràng vẫn nhận ra sự thay đổi kỳ lạ ở con người thị. Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không có vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần gặp ngoài chợ tỉnh. Không những thế, thị còn tỏ ra là người biết tu chí làm ăn. Khi thị hỏi bà cụ Tứ về tiếng trống ồn ã ngoài đình và biết đó là tiếng trống thúc thuế, thị đã khe khẽ thở dài. Rồi chính thị là người đầu tiên kể cho cả nhà nghe chuyện trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa mà đi phá kho thóc Nhật, chia cho người đói.

Câu chuyện ấy khiến Tràng ân hận và tiếc rẻ khi nhớ lại mình đã từng có cơ hội làm như thế mà chẳng làm. Ai biết rồi đây, để chăm lo cho cuộc sống gia đình của mình, người phụ nữ này có khi cả gan hơn cả anh cu Tràng! Bữa cơm nghèo buổi sáng hôm ấy, thị cũng như bà cụ Tứ và anh Tràng đều thấy một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mình khi phải cố nuốt những miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ. Song, thị cũng như hai mẹ con Tràng, đều cố tránh nhìn mặt nhau, đều không muốn làm người khác phải buồn tủi hơn. Phải ý nhị lắm, phải tinh tế đến nhường nào mới có thái độ ứng xử đầy chất nhân văn và tinh tế như vậy.

Hoá ra cái đanh đá, trở trẽn trước kia ở người đàn bà Tràng lấy làm vợ chẳng qua là do đói do khát mà ra. Khi được sống trong tình thương, trong mái ấm gia đình, người đàn bà ấy đã sống với bản chất tốt đẹp vốn có của mình, của một người phụ nữ Việt Nam

Qua truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã khắc họa nhân vật người phụ nữ vợ nhặt rất thành công. Tác giả chú trọng khắc họa hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc hiểu được tâm lí của người phụ nữ. Nhà văn lựa chọn được những chi tiết rất phù hợp để bộc lộ số phận cũng như vẻ đẹp của nhân vật. Nhân vật vợ nhặt nắm giữ vai trò khá quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm đồng thời có vai trò quyết định trong việc hình thành nên tình huống truyện. Qua nhân vật này người đọc cũng thấu hiểu được tài năng cũng như tấm lòng của nhà văn.Vợ nhặt một nhân vật vô danh.

Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 9

Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân viết lên bằng cái ám ảnh rùng rợn của nạn đói đầu năm 1945 trong tâm trí của tác giả cũng là trong tâm trí của người dân miền Bắc. Nạn đói thê thảm bao trùm khắp không gian và biến một người đàn bà thành cô “vợ nhặt”. Có thể nói nhân vật người vợ nhặt là một trong những nhân vật độc đáo nhất trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, ẩn chứa nhiều quan niệm nghệ thuật và triết lý sống sâu sắc.

Nhân vật người vợ nhặt hiện lên trong nạn đói vô cùng thê thảm, thị bị cái đói dồn tới bước khó khăn có lúc như mất đi vẻ đẹp dịu dàng nữ tính vốn có. Người vợ nhặt không có tên. Thị nghèo khổ tới mức không có một cái tên riêng cho mình. Cái đói, cái nghèo còn tước đoạt cả vẻ đẹp hình thể, làm cho chị ta tiều tụy cả về hình dáng: “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”, “cái bụng gầy lép”, “bộ quần áo rách như tổ đỉa”. Thị “ton ton” chạy theo Tràng đẩy xe, liếc mắt cười tình. Thị “sưng sỉa” đòi ăn. Thị “chao chát”, “chỏng lỏn”, “đon đả”: “Ăn thật nhá! Ừ ăn thì ăn sợ gì!”… Vì miếng ăn nhất thời mà chị sẵn sàng theo không một người đàn ông xa lạ. Vài câu nói tầm phơ tầm phào và bốn bát bánh đúc mà thị trở thành vợ “nhặt về” của anh phu Tràng – một kẻ ế, nghèo, ngơ ngẩn. “Cô dâu” – thị về nhà chồng mà không tài sản, không nhan sắc. Cái đói khiến thị thành vật vô giá trị. Về phương diện này người vợ nhặt còn không bằng nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài. Mị tuy bị áp bức tới vô cảm, chẳng bằng thân trâu ngựa nhưng ít ra còn xinh đẹp và tài hoa. Còn thị, ngay cả cái phần ưu ái thường dành riêng cho phụ nữ thì tạo hóa cũng từ chối cho người đàn bà này. Cuộc sống đã đói khổ khiến thị mất đi cái duyên con gái, vừa nghe được ăn thì đã “ton ton chạy lại đẩy xe bò” cho Tràng. Rồi lại còn “chạy tới xưng xỉa đòi ăn”, đến khi được ăn thì “cắm đầu ăn một chặp hết bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì” và “hai con mắt trũng hoáy sáng lên”. Thị gần như mất hết lòng tự trọng, chẳng có nét gì là của người phụ nữ nông thôn.

Thế nhưng bản chất của chị không phải là người đanh đá, nanh ác, cơ hội. Thực chất là do hoàn cảnh khiến cho thị thành như vậy. Cho nên cho đến khi được hạnh phúc gia đình, thị bỗng trở về bản chất lương thiện chu đáo vốn có của người phụ nữ Việt Nam. Từ khi trở thành “cô dâu”, thị e thẹn, ngượng ngùng thật đáng yêu khi về nhà chồng. Sau đêm tân hôn, thị gần như trở thành người khác. Thị biết lo toan, vun vén cho hạnh phúc gia đình. Thị cùng bà cụ Tứ dọn sân vườn, nhổ cỏ, đem mấy bộ quần áo ra hong, cái ang khô cũng đầy ắp nước… mang lại hơi thở mới cho căn nhà. Bữa cơm ngày đói tuy đơn sơ, miếng cháo cám đắng ngắt nhưng chính thị là người khơi dậy khát vọng sống của mọi người khi nhắc tới cảnh Việt Minh phá kho thóc Nhật cứu đói. Chi tiết này đã hé mở con đường giải thoát cuộc đời cho con người và khao khát một tương lai tươi sáng ở nhân vật người vợ nhặt.

Như vậy, thông qua hình tượng nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm “Vợ nhặt”, Kim Lân đã phản ánh tình trạng thê thảm và niềm thương cảm sâu sắc với số phận con người lao động nghèo khổ trong nạn đói 1945. Hình ảnh người vợ nhặt là hiện thân cho bản chất tốt đẹp của con người, cho khát vọng hạnh phúc gia đình và hiện thân của khát vọng sống.

Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 10

Tác phẩm Vợ nhặt xoay quanh câu chuyện của ba người trong một gia đình ngụ cư. Điều lạ là một người làm nên chính cái tên của truyện lại không có tên, không biết tuổi. Đó chính là vợ Tràng. Người phụ nữ ấy chỉ là một trong số hàng ngàn, hàng vạn thân phận phụ nữ cùng thời. Do đó, người ấy rất rễ bị lãng quên, ít ai chú ý tới nhưng với nhà văn đó là một số phận không thể bỏ qua, một số phận gây nhức nhối, trăn trở. Sự hấp dẫn của nhân vật nữ này phải chăng là từ một người trong cõi mù mịt, không đâu vào đâu trở thành một nàng dâu hiền thục của bà cụ Tứ?

Vợ Tràng là người đàn bà không rõ lai lịch, không có gia đình, không có nhà cửa. Cô ta thậm chí không có tên và khi xuất hiện lúc được gọi là thị, là cô ả, lúc là người đàn bà. Chỉ có bà cụ Tứ xem vợ Tràng là nàng dâu, con dâu, là con và được Tràng gọi là nhà tôi mà thôi. Trước khi về nhà bà cụ Tứ, cô ta cùng với mấy chị con gái ngồi vêu ra ở cửa nhà kho thóc Liên đoàn chờ nhặt hạt rơi, hạt vãi, hay ai có công việc gì gọi đến thì làm. Trong nạn đói hồi ấy, thân phận con người thật rẻ rúng. Đâu phải vợ Tràng mới là người không tên, không tuổi, còn biết bao chị gái như thế.

Vợ Tràng xuất hiện với một chân dung thảm thương. Lần đầu tiên Tràng trông thấy, thị mới chỉ gầy yếu xanh xao (ngồi vêu trước cửa kho thóc), nhưng gặp lần hai, anh ta không nhận ra. Vì đói rách mà chỉ hôm, áo quần rách thị tả tơi như tổ đỉa, gày sọp hẳn đi, trên cái mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt. Chả trách anh cu Tràng không nhận ra thị là phải.

Khi mới gặp Tràng: Thị là người đanh đá, táo bạo tới mức trở nên trơ trẽn. Nghe anh chàng phu xe hò một câu cho đỡ nhọc (Muốn ăn cơm trắng mấy giò này / Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì), thị đã cong cớn bám lấy rồi vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng. Gặp lần thứ hai, khi Tràng vừa trả hàng xong, thị đâu xầm xầm chạy đến. Thị đứng trước mặt mà sưng sỉa nói: Điêu! Người thế mà điêu! Khi thấy anh Tràng có vẻ dễ bắt choẹt, thị tiếp tục cong cớn. Thấy có miếng ăn, hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên rồi thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chạp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong, thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng mà thở.

Phải chăng đấy là tính cách vốn có của người đàn bà này? Không, từ đầu đến lúc theo Tràng về nhà, người phụ nữ ấy hành động hoàn toàn theo bản năng của mình. Thị làm tất cả chỉ để được… ăn!

Khi đã chấp nhận làm vợ Tràng: Trên con đuờng trở về nhà của Tràng, thị thay đổi hẳn. Trong khi Tràng mặt có một vẻ gì phớn phở khác thường, hay tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh, thì thị lại đi sau hắn chừng ba bốn chục thước, cắp cái thúng con, cái nón tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn. Rõ ràng so với người đàn bà mới ban trưa, bây giờ thị đã là người khác. Ban trưa, lúc ở ngoài chợ, thị sấn sổ, cong cớn để được ăn, còn bây giờ, thị đang về nhà chồng (ai mà chẳng e thẹn!). Vả lại, thị bắt đầu ý thức về thân phận mình, là người vợ theo không. Té ra, thị chẳng có chút quyền uy nào, kể cả quyền lựa chọn và đành chấp nhận số phận khi đã đến bước đường cùng.

Song, dù cố đấm ăn xôi đi nữa, thị vẫn là người có ý thức về giá trị của bản thân. Trên đường về nhà chồng, khi anh Tràng lấy làm thích thú trước cảnh lũ trẻ con chọc ghẹo, thì thị có vẻ khó chịu lắm, đôi lông mày nhíu lại, đưa ta y lên xóc lại tà áo. Trẻ con nghịch ngợm chọc ghẹo còn được, đằng này đến người lớn cũng tò mò, thị càng ngượng ngiụ, chân nọ díu cả vào chân kia. Anh Tràng đến là vô tư, cứ lấy vợ vậy làm thích thú. Thị càu nhàu trong miệng và lầm lũi đi đến nỗi nhầm đường. Thị mong sớm đến nhà “chồng” để tránh sự dòm ngó của mọi người.

Về nhà của Tràng, thị càng khác hơn. Người đàn bà ấy có cái tò mò của nàng dâu mới. Thị đảo mắt nhìn chung quanh. Quả là nghèo quá. Thị nén tiếng thở dài. Anh Tràng muốn vợ mình được tự nhiện, cứ giục ngồi, nhưng thị chỉ dám ngồi mớm xuống mép giường. Khi bà cụ Tứ về, người đần bà ấy chủ động chào bà bằng u. Trước mặt người mẹ chồng, thị càng rụt rè, vẫn đứng nguyên chỗ cũ, khẽ nhúc nhích. Chính thái đọ ấy cùng hoàn cảnh của thị đã khiến bà cụ Tứ , trái với sự dò xét thông thường của những người mẹ chồng đối với nàng dâu, nhìn thị lòng đầy thương xót. Bà nhanh chóng chấp nhận thị là dâu dù chỉ mấy phút trước đó cả hai đều hoàn toàn xa lạ.

Sáng hôm sau, thị đã trở thành người vợ đảm đang. Cùng với bà cụ Tứ , thị thức dậy sớm, lo dọn dẹp nhà cửa, quét tước sân vườn sạch sẽ. Người vô tâm như anh Tràng vẫn nhận ra sự thay đổi kỳ lạ ở thị: Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không có vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần gặp ngoài tỉnh. Không những thế, thị còn tỏ ra là người biết tu chí làm ăn. Khi thị hỏi bà cụ Tứ về tiếng trống ồn ã ngoài đình và biết đó là tiếng trống thúc thuế, thị đã khẽ thở dài. Rồi chính thị là người đầu tiên kể cho cả nhà nghe chuyện trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa mà đi phá kho thóc Nhật, chia cho người đói. Câu chuyện ấy khiến Tràng ân hận và tiếc rẻ khi nhớ lại mình đã từng có dịp làm như thế mà chẳng làm. Ai biết rồi đây, để chăm lo cho cuộc sống gia đình của mình, người phụ nữ này có khi cả gan hơn cả anh cu Tràng! Bữa cơm nghèo buổi sáng hôm ấy, thị cũng như bà cụ Tứ và anh Tràng đều thấy một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mình khi phải cố nuốt những miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ. Song, thị cũng như hai mẹ con Tràng, đều cố tránh nhìn mặt nhau, đều không muốn làm người khác phải buồn đau hơn. Phải ý nhị lắm, phải tinh tế đến nhường nào mới có thái độ ứng xử đầy chất nhân bản như thế!

Hoá ra cái đanh đá, trở trẽn trước kia ở người đàn bà Tràng lấy làm vợ chẳng qua là do đói khát mà ra. Khi được sống trong tình thương, trong mái ấm gia đình, người đàn bà ấy đã sống với bản chất tốt đẹp của mình, của một người phụ nữ Việt Nam.

Vợ Tràng tiêu biểu cho số phận những người phụ nữ trong nạn đói 1945: nghèo đói, bị rẻ rúng. Khi người đàn bà ấy may mắn được sống trong tình người, trong mái ấm gia đình mặc dù cuộc sống còn nhiều đe doạ của sự đói khát, thì những phẩm chất tốt đẹp đã sống lại.

Kim Lân đã khắc hoạ nhân vật người phụ nữ rất điêu luyện. Nhà văn không tập trung miêu tả tâm lý nhân vật để giữ vẻ xa lạ, phù hợp với hoàn cảnh của thị, một người vợ nhặt (khác với nhân vật Tràng được miêu tả tâm lý hết sức tỉ mỉ). Tác giả lại chú trọng khắc hoạ hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc tự hiểu tâm trạng của người phụ nữ. Chẳng hạn, chi tiết thị lấy nón che mặt diễn tả tâm trạng xấu hổ vì biết mình là người phụ nữ theo không về nhà chồng; hoặc thị nén một tiếng thở dài khi đảo mắt nhìn chung quanh căn nhà của Tràng; hay chi tiết thị đón lấy bát cháo cám, đưa mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại rồi điềm nhiên và vào miệng là thái độ chấp nhận số phận khi đến bước đường cùng… Nhiều chi tiết nho nhỏ, vụn vặt như thế nhưng đã nói được khá rõ về tâm tư, tình cảm của một con người.

Xây dựng nhân vật vợ Tràng, nhà văn đã gián tiếp tố cáo một xã hội đẫ đẩy con người đến sự rẻ rúng, tha hoá về nhân phẩm chẳng qua vì sự đói khát. Thế nhưng, trong cảnh ngộ của mình bi đát, con người vẫn luôn vươn tới sự sống, hướng tới tương lai và ở một hoàn cảnh nhân đạo hơn, phẩm giá con người đã sống dậy.

Ba nhân vật chính trong Vợ nhặt đã được nhà văn xây dựng theo cách thức khác nhau. Chính sự khác nhau đó đã góp phần tạo nên giá trị độc đáo của tác phẩm. Ba nhân vật trở thành ba mảng đời của một xã hội tối tăm, đói khát và cũng từ đó ánh lên tia sáng của chủ nghĩa nhân đạo cao cả.

Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 11

Nhân vật “Thị” là một thành công đặc sắc của Kim Lân trong nghệ thuật phân tích tâm trạng người phụ nữ cùng khổ trong nạn đói năm Ất Dậu, 1945. Nhân vật vợ Tràng được miêu tả bằng những nét ám ảnh, xót thương, có vai trò tô đậm tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.

Trận đói đang diễn ra vô cùng khủng khiếp. Người chết đói như ngả rạ. Quạ bay vù lên như những đám mây đen trên nền trời. Đoàn người chạy đói từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt như những bóng ma xanh xám, nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Mùi gây của xác người. Thị cũng chạy đói “ngồi vêu ra” cùng mấy chị con gái nơi cửa nhà kho. Không họ tên, không rõ quê quán, tuổi tác. Chắc cha mẹ, anh chị em đã chết đói cả rồi? Cái đói đã cướp đi của tất cả. Lần đầu nghe Tràng hò “muốn ăn cơm trắng mấy giò…”, Thị bị mấy cô bạn “đẩy vai”. Thị “cười như nắc nẻ” cong cớn nói với Tràng: “Này nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?”. Thị “liếc mắt cười tít” làm cho anh cu Tràng “thích lắm”. Lần sau, Thị gặp lại Tràng thì đã thay đổi hẳn. Áo quần rách tả tơi như tổ đỉa. Thị gầy sọp đi. Khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt. Dưới chân Thị là vực thẳm, là chết đói! Thị “sưng sỉa” trách Tràng là “điêu”, “leo lẻo cái mồm hẹn xuống thế mà mất mặt!”. Thấy Tràng vỗ vào cái túi khoe “rích bố cu”, hai con mắt “trũng hoáy” của Thị tức thì sáng lên. Thị “đon đả” với anh cu Tràng: “Ăn thật nhá!”. Thị đã ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc rồi thở, khen: “Hà, ngon!”. Cũng biết đùa, biết trêu giai như phần đông các cô gái khác, nói với Tràng rất lẳng lơ: “Về chị ấy thấy hụt thì bỏ bố!”. Chỉ một câu nói tầm phào của Tràng “làm đếch gì có vợ…”, thế là Thị theo về ngay, “Thị về thật”. Khi đứng trong cái nhà “vắng teo… rúm ró” của mẹ con Tràng, Thị đảo mắt nhìn xung quanh, thất vọng “cái ngực gầy lép nhô hẳn lên, nén một tiếng thở dài”.

Từ dáng điệu, cử chỉ đến cách ăn nói đối đáp, Thị vừa cong cớn, vừa thô lỗ, sỗ sàng. Thị đã nhịn đói nhiều ngày. Cái đói hành hạ. Chết đói là điều cầm chắc. cần được ăn để sống. Thị cần có nơi nương tựa để khỏi chết đói. Bản chất tốt đẹp của người con gái đã bị nạn đói, cái đói khủng khiếp cướp mất đi, che lấp đi. thật đáng thương! Thị có khác gì người ăn mày nọ:

“Ăn mày là ai? Ăn mày là ta!Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày!”

(Ca dao)

Bản chất của người con gái đói khổ không rõ họ tên này không phải là xấu. Cách kể, cách tả của Kim Lân rất đôn hậu, nhiều bao dung, thương cảm, đem đến cho ta nhiều xúc động.

Chỉ qua một ngày một đêm, sau khi đã thành vợ của Tràng, thành “nàng dâu mới” của bà cụ Tứ, ta thấy nhân vật này có những biểu hiện, những tình cảm tốt đẹp như bao người phụ nữ khác. Dù kề bên cái chết, cô gái này vẫn khao khát hạnh phúc, muốn được sống trong mái ấm gia đình, một mái ấm tình thương, có chồng con như những người đàn bà may mắn khác. Trước cái nhìn tò mò của bà con xóm chợ, Thị “ngượng nghịu, chân nọ bước dịu cả vào chân kia”. Nghe bọn trẻ con gào lên: “Anh Tràng ơi! Chông vợ hài”, Thị “nhíu đôi mày lại”, rồi đưa tay lên “xóc xóc lại tà áo”. Chưa gặp bà cụ Tứ, Thị rất băn khoăn lo lắng “mặt bần thần”. Đứng trước mặt mẹ chồng, trông Thị rất đáng thương: “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt”.

Nghe bà cụ Tứ nói: “Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân” Thị “vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ”. Đó là tâm trạng của một người con gái lấy chồng không một quả cau, một lá trầu, không cưới. Tủi cho cảnh ngộ. Tủi cho duyên số. Thật đáng thương!.

Thị cũng có nhiều biểu hiện rất nữ tính “hay đáo để”. Cái “liếc mắt cười tít” lần đầu gặp Tràng. Cái phát đánh đét vào lưng Tràng với tiếng mắng yêu: “Khỉ gió”. Một lời trách nhẹ chồng: “… chuyện dai thế, đợi sốt cả ruột”. Một cái củng vào trán Tràng kèm theo câu nói yêu: “Chỉ được cái thế là nhanh. Dơ!”. Sau bao tháng ngày, chạy đói, sống vất vưởng lang thang nơi đầu đường xó chợ, cái chết đói đến dần, Thị đã trở thành vợ của Tràng, dù còn nhiều thử thách lo lắng, nhưng Thị đã có sự đổi đời. Niềm vui trong tối tân hôn thể hiện cảm động niềm khát khao hạnh phúc của một người phụ nữ trong đói khát hoạn nạn. Hạnh phúc muộn màng nhưng đáng quý giá biết bao! Ngòi bút hóm hỉnh của Kim Lân thể hiện bao trân trọng trước niềm vui hạnh phúc và sự đổi đời của vợ chồng Tràng.

Nhân vật vợ Tràng có nhiều thay đổi tốt đẹp. Dậy sớm cùng mẹ chồng quét tước, thu dọn nhà cửa sạch sẽ gọn gàng, xây đắp tổ ấm hạnh phúc. Tiếng chổi quét sân của Thị “kêu sàn sạt trên mặt đất” tưởng như niềm vui đang xôn xao trong lòng Thị? Thị “lẳng lặng” đi vào bếp dọn bữa ăn sáng, Tràng cảm thấy vợ mình rất đáng yêu. Bà cụ Tứ đã có “nàng dâu mới”, Tràng đã có vợ. Nhà thêm người, thêm bát đũa, thêm nhân lực. Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, Thị nói với mẹ chồng và chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa ta cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Qua đó, ta cảm thấy nhân vật vợ Tràng, “nàng dâu mới” cũng là người truyền tin cách mạng.

Vai trò nhân vật vợ Tràng trong truyện “Vợ nhặt” là một nhân chứng tố cáo, lên án tội ác tày trời của Nhật – Pháp gây ra nạn đói năm 1945 làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Nạn đói do chúng gây ra khủng khiếp đã hạ thấp nhân phẩm con người, cướp đi mọi giá trị của con người biến người con gái như một thứ đồ rẻ rúng có thể “nhặt” được!

Nhân vật vợ Tràng gầy đói xác xơ, về làm dâu bà cụ Tứ phải mặc áo quần rách như tổ đỉa, bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng là một bữa cháo cám – hình ảnh ấy, tình tiết ấy thật đáng thương. Và đó cũng là nỗi đau, nỗi nhục của nhân dân ta trong cảnh lầm than nô lệ.

Nhân vật vợ Tràng trong truyện “Vợ nhặt” đã nói lên một sự thật ờ đời. Trong đói khổ hoạn nạn, kề bên cái chết, nhân dần ta vẫn khao khát được sống ấm no hạnh phúc. Những người nghèo khổ đã biết dựa vào nhau, san sẻ vật chất và tình thương cho nhau để vượt qua thử thách khắc nghiệt, vươn tới ấm no hạnh phúc và sự đổi đời với niềm tin: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”… Cũng như bà cụ Tứ, anh cu Tràng, nhân vật vợ Tràng đã có vai trò thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác phẩm “Vợ nhặt”.

Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 12

Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc và những hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân. Bằng bút pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cùng giai đoạn đó. Đó là nhân vật người vợ.

Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết, người chết như ngả rạ, không buổi sáng nào người trong làng đi chơi, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí bốc lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Tác phẩm như đã tái hiện lên khung cảnh lúc đó, ở một xóm nghèo nhỏ, người dân sống cực khổ quanh năm , lại thêm cảnh chèn ép bắt đóng thuế nhọc nhằn sao kể xiết.

Ngay từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những con người nghèo khổ trong xã hội Việt Nam. Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút cho diễn biến xoay quanh nhân vật người vợ trong tác phẩm. Từ “nhặt” mang lại cho đọc giả cái cảm giác rẻ rúng, bèo bọt của phận làm nữ nhi, gợi lên niềm xót thương cho số phận con người. “ Vợ nhặt” nghe quá đỗi chân thực và vẽ lên hình ảnh người phụ nữ có một cuộc sống khó khăn, chẳng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn khi ngay cả một đám cưới nhỏ cũng không có hay chính xác hơn là một mâm cơm ngon cũng chỉ như giấc mộng hão huyền ngày cô về làm dâu nhà người ta.

Mở đầu truyện ngắn, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí của một anh nông dân nghèo rách mồng tơi. Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con không buồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Bởi cuộc sống quá khó khăn, đói kém con người ta trở nên càng mệt mỏi , chán nản, từ già trẻ, gái trai đều đem sự khắc khổ của đời mà ghim vào những nếp nhăn , nếp chân chim, và làn da rám nắng , thân thể gầy gò quắt queo. . Trong khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng được tái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái áo nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”. Và bỗng một hôm hắn dắt về một người đàn bà lạ hoắc không một ai trong xóm nhỏ quen biết. Dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh “ Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén,e thẹn” . Một người đàn bà nghèo khổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cùng cực đúng là một đôi trời sinh.Tưởng chừng Thị là một người phụ nữ táo bạo vô duyên nhưng thực chất cũng vô cùng e lệ và suy nghĩ như một người phụ nữ. Cắp thúng con theo Tràng về, nàng dâu mới cũng bẽn lẽn theo sau, khi bị trêu chọc cũng e thẹn như bao nàng dâu mới khác. Về đến nhà, khi được Tràng mời ngồi Thị chỉ ngồi mớm ở giường, tay vân vê và bộ mặt lộ rõ vẽ đầy lo lắng. Chắc có lẽ Thị nghĩ về cuộc sống mới của hai vợ chồng, rồi cuộc đời của Thị sẽ đi đến đâu.

Khi trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và sự chuyển đổi trong tâm tính thật tài tình và sâu sắc. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu. Chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…”. Sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiện lên. Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu “bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…”. Những suy nghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái khiến cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết. Thế nhưng vì thương con, lại một chữ “thương” mà bỏ qua tất cả để người mẹ chấp nhận cuộc sống vất vả, khổ cực có thêm một miệng ăn và bà cũng thương cả hai con người trẻ tuổi trước mặt mình: “Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là con dâu trong nhà rồi”. Có hai tình huống xảy ra mà khiến độc giả có lẽ không cầm được nước mắt, đó là khi nhà ăn bữa cơm đầu tiên đón nhận thành viên mới và lúc bà mẹ già bưng nồi ‘‘chè khoán’’ nghi ngút khói ra đặt cạnh mâm cơm. Trong cái thời nạn đói, người chết như rạ ấy thì một bữa cơm đúng nghĩa quả thực rất khó để có trong một gia đình như của Tráng. Bữa cơm bao gồm “giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà ăn đều rất ngon lành’’. Thật sự là nghèo khó đến bần cùng cạn kiệt. Người vợ vẫn ăn mà không một câu than phiền. Xuất thân của Thị cũng có hơn gì ai. Thị cũng nghèo khó, gầy gò và vì tình thương mà đến làm vợ, làm con dâu nhà người ta. Thị cũng là một người vô cùng đảm đang và tháo vát. Khi về nhà Tràng, buổi sáng sớm tinh mơ, Thị đã dậy sớm để cùng bà dọn dẹp và sửa sang lại căn nhà vườn tược. Dường như Thị muốn vun vén cuộc sống của gia đình và bắt đầu một cuộc sống mới. Thị cũng rất vui tính và hòa nhập nhanh với cuộc sống mới. Trong bữa ăn, Thị kể nhiều câu chuyện, có cả câu chuyện cướp kho thóc Nhật, từ đó dấy lên bao niềm khát khao hi vọng tự do của những người dân nghèo khó. Một bữa cơm đón dâu nghèo nàn đến đáng thương. Tình huống khiến người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám” trong buổi bữa cơm đón dâu đầu tiên. Hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của cái đói nghèo đến cùng cực trong một gia đình “không còn gì giá trị nữa”. Ai cũng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất đong đầy yêu thương bà Tứ có thể mang lại cho con. Và có lẽ trong thâm tâm người ‘‘vợ nhặt’’ cảm thấy xúc động thêm thương xót cho những con người trong gia đình này. Hoá ra cái đanh đá, trở trẽn trước kia ở người đàn bà Tràng lấy làm vợ chẳng qua là do đói do khát mà ra.

Qua truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã khắc họa nhân vật người phụ nữ vợ nhặt rất thành công. Tác giả chú trọng khắc họa hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc hiểu được tâm lí của người phụ nữ. Nhà văn lựa chọn được những chi tiết rất phù hợp để bộc lộ số phận cũng như vẻ đẹp của nhân vật. Nhân vật vợ nhặt nắm giữ vai trò khá quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm đồng thời có vai trò quyết định trong việc hình thành nên tình huống truyện.ong mái ấm gia đình, người đàn bà ấy đã sống với bản chất tốt đẹp vốn có của mình, của một người phụ nữ Việt Nam.

Nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 13

Kim Lân là một nhà văn có nhiều trang viết gắn liền với cuộc sống của những người nông dân Bắc bộ Việt Nam. Ông có nhiều tác phẩm viết về con người và mảnh đất này như: “Làng”, “Vợ nhặt”, “Con chó xấu xí”. Tác phẩm “Vợ nhặt” được trích từ tập truyện “Con chó xấu xí” là tác phẩm xuất sắc của Kim Lân. Tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về nạn đói khủng khiếp năm 1945 vừa là bài ca ca ngợi về vẻ đẹp tình người và khát vọng sống, niềm tin vào tương lai của người lao động nghèo. Dường như nạn đói định mệnh ấy đã làm cho con người ta quên đi cả danh dự, họ bất chấp để được sống, thậm chí chuyện hạnh phúc cả đời cũng tặc lưỡi cho qua. Nhân vật Thị là một điển hình trong số những nạn nhân xấu số của nạn đói đó.

Tác phẩm “Vợ nhặt” được viết ngay sau Cách mạng với tên gọi “Xóm ngụ cư”. Nhưng do thất lạc bản thảo nên sau khi hòa bình lập lại, tác giả đã viết lại thành “Vợ nhặt”. Tác phẩm có nhiều nhân vật nhưng nhân vật người “vợ nhặt” là nhân vật mang lại nhiều thương cảm nhất cho người đọc. Nhân vật này được xây dựng dựa trên sự đối lập giữa hình thức bên ngoài và phẩm chất bên trong, giữa trước và sau khi về làm vợ Tràng.

Trước hết, hình ảnh người vợ nhặt hiện lên là một “người phụ nữ nghèo, cùng đường và liều lĩnh”. Vì đói mà sẵn sàng bất chấp cả thể diện để có được miếng ăn để sống được qua ngày. Ẩn sau cái vẻ ngoài bất cần ấy Thị là một người đầy “nữ tính và giàu khát vọng”. Điều này đã góp phần tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ và lòng ham sống, khát vọng sống vươn lên hướng đến ánh sáng ngày mai. Tất cả những điều này đã mang đến cho người đọc cái nhìn đúng đắn về người vợ nhặt nạn nhân của nạn đói năm 1945.

Đi suốt chiều dài của tác phẩm đúng là người vợ nhặt là “người phụ nữ nghèo, cùng đường và liều lĩnh”. Thị là một trong số vô vàn các nạn nhân của nạn đói năm Đinh Dậu. Dưới ngòi bút của Kim Lân, người vợ nhặt của anh Tràng chẳng biết từ đâu xuất hiện, không có cái tên để gọi, không có nguồn gốc sinh thành, không quê hương bản xứ, mọi thứ về Thị chỉ là một con số không tròn trĩnh. Không phải là nhà văn không thể đặt cho Thị một cái tên mà bởi vì Thị là cánh bèo nổi trôi trong nạn đói, là người đàn bà vô danh. Từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật này chỉ được gọi là “cô ả”, “Thị”, “người đàn bà”, “nàng dâu mới”, “nhà tôi”. Nhưng chính nhân vật này để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc, đã làm nên tiếng vang cho truyện ngắn Vợ Nhặt.

Thị bị cơn bão nạn đói thổi cho phiêu dạt đến miền đất này, cuộc sống lê la tháng ngày không biết đến ngày mai nếu như không có cái lần anh Tràng “hò một câu chơi cho đỡ nhọc” ấy. Thị xuất hiện với ngoại hình không xinh đẹp, hấp dẫn. Chân dung của Thị được gợi tả với “những nét không dễ nhìn”. Đó là người phụ nữ gầy vêu vao, “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt” nổi bật với “hai con mắt trũng hoáy”. Phải chăng, sức tàn phá của nạn đói đã khiến Thị càng nhếch nhác, tội nghiệp lại càng tội nghiệp hơn nữa, nó đã làm cho người phụ nữ ấy trở nên thê thảm hơn bao giờ hết. Cái đói không chỉ tàn hại dung nhan của Thị mà còn tàn hại cả tính cách, nhân phẩm. Vì đói mà Thị trở nên “chao chát”, “chỏng lỏn”, “chua ngoa, đanh đá”. Thị “cong cớn”, “sưng sỉa” khi giao tiếp, nói chuyện. Cái đói đã xui khiến Thị quên đi ý tứ, lòng tự trọng của người con gái. Được cho ăn, Thị sẵn sàng “sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Với Thị lúc đó miếng ăn để duy trì cuộc sống còn cao hơn nhân cách, nếu như chết thì nhân cách có cũng chẳng để làm gì .

Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, người “vợ nhặt” lại có một lòng ham sống mãnh liệt. Thị đồng ý theo Tràng là vì để được sống chứ không phải là loại đàn bà con gái lẳng lơ. Thị bất chấp tất cả để được ăn, ăn để được tồn tại. Đó là ý thức bám lấy sự sống. Khi anh cu Tràng hay đùa, lại đùa “có muốn theo tớ về nhà thì ra khuân đồ lên xe rồi ta cùng về”. Thị không trả lời mà lặng lẽ theo Tràng về, Thị đã gián tiếp đồng ý, một sự đồng ý không hề có sự băn khoăn hay phân vân gì cả, dường như chuyện dựng vợ gả chồng trở nên dễ dàng và rẻ rúng hơn bao giờ hết. Cái giá của người phụ nữ ít nhất cũng là “Ba trăm một mụ đàn bà/ Mua về mà trải chiếu hoa cho ngồi”. Ở đây, Thị đã “đại hạ giá” xuống còn bốn bát bánh đúc, hai hào dầu, một thúng con. Thị nào có biết Tràng là ai, tốt xấu như thế nào, quê quán, gốc tích ra sao? Chỉ một câu hò bâng quơ và mấy bát bánh đúc là Thị đã theo về làm vợ anh Tràng. Phải chăng Thị theo Tràng chỉ vì miếng ăn ? Thị dễ dàng, hời hợt thế ư? Thực ra hành động theo Tràng của Thị xuất phát từ lòng khao khát được sống. Khi đã cận kề cái chết, người đàn bà không hề buông xuôi sự sống. Trái lại, Thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng xây mái ấm gia đình. Tinh thần lạc quan yêu sự sống của Thị chính là một phẩm chất rất đáng quý. Nói như Kim Lân: “Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”.

Trên đường về nhà chồng, trước cái nhìn “săm soi”, trước những lời bông đùa, chòng ghẹo của người dân ngụ cư. Nếu như anh cu Tràng sung sướng, tự mãn, cái mặt vênh lên tự đắc với mình thì người đàn bà lại cảm thấy xấu hổ. Thị ngượng nghịu, thiếu tự tin “chân nọ bước díu cả vào chân kia cái nón rách tàng che nửa khuôn mặt”. Đấy là nữ tính cũng là hình ảnh của một người phụ nữ giàu lòng tự trọng. Thực ra, cái đói đã đẩy đưa Thị phải theo Tràng. Cơn bão tố cuộc đời đã xô đẩy thân phận cùng cực ấy ngã vào đôi vai người đàn ông thô kệch. Nhưng biết đâu đấy lại là cái may mắn của Thị. Bởi cũng biết đâu, nếu không có câu bông đùa ấy của Tràng, ít bữa nữa thôi, Thị có khi lại trở thành thây ma giữa nạn đói khủng khiếp này.

Kim Lân rất tinh tế khi miêu tả nét tâm lý, tính cách của Thị. Nhà văn như lọt vào trong nỗi thẳm sâu tâm tư tình cảm ấy của người phụ nữ năm đói. Ông như nhìn thấy cả nỗi tủi nhục của kiếp người, thấy cả trong bước chân liêu xiêu, bước díu vào nhau kia là cả tủi hờn, xấu hổ. Cả tiếng thở dài não nuột kia cũng đáng để ông xót xa và mến yêu. Ấy là lúc Thị về đến nhà Tràng, nhìn thấy “ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, Thị “nén một tiếng thở dài”. Đây là tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng nhưng cũng là sự chấp nhận. Ai ngờ cái phao mà Thị vừa bám vào lại là một chiếc phao rách.

Trong tiếng thở dài đó vừa có sự lo lắng cho tương lai ngày mai, vừa có cả những lo toan và trách nhiệm của Thị về gia cảnh nhà chồng đó phải chăng là Thị đã ý thức được phận trách của mình đối với việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình. Tấm lòng của Thị thật đáng quý biết bao. Hay chính Kim Lân đã thổi vào tâm hồn Thị niềm lạc quan ấy để Thị vững lòng cho một cuộc sống ngày mai. Quả thật là Thị không tìm thấy ở Tràng một chút gì gọi là nương tựa về vật chất nhưng Tràng chính là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất cho Thị vào lúc này. Cuộc sống này xét về tình nghĩa như thế cũng đáng để sống lắm chứ.

Đến lúc này người đọc chợt nhận ra, bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, Thị lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan và cũng giàu lòng tự trọng. Vào trong nhà, Thị e thẹn, dè dặt “ngồi mớm” vào mép giường. Thị ý tứ, cung kính, lễ phép chào bà cụ Tứ (chào đến hai lần). Thị thể hiện mình là một nàng dâu hiếu thảo, lễ phép với mẹ chồng..

Sáng hôm sau, Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, sắp xếp lại nhà cửa, ngôi nhà của bà cụ Tứ giờ đây như được hồi sinh.. Đến đây, người đọc dễ nhận thấy: bao nhiêu vẻ “chỏng lỏn”, “sưng sỉa” của Thị trước kia không còn nữa. Dường như Thị đã lột xác trở nên nữ tính hơn. Hơn ai hết, Tràng cảm nhận đủ đầy sự thay đổi tuyệt vời ấy “Tràng nom Thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”. Lúc này Tràng cảm thấy vợ mình đã thật sự thay đổi. Chính sức mạnh của tình yêu đã cảm hóa và làm thay đổi con người Thị.

Trong bữa cơm đầu đón nàng dâu: Dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng Thị vẫn vui vẻ, bằng lòng. Thị đã làm cho không khí gia đình ấm cúng, thân thương hơn bao giờ hết. Thị chính là ngọn gió mát lành thổi vào cuộc sống của gia đình Tràng, thổi vào cả tâm hồn người đàn ông phu xe cục mịch, thổi cả vào khuôn mặt “bủng beo u ám” của bà cụ Tứ để hôm nay trông bà “rạng rỡ hẳn lên”. Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, Thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Sự hiểu biết này của Thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn. Qua đó, ta cảm thấy nhân vật vợ Tràng, “nàng dâu mới” cũng là Người truyền tin cách mạng.

Có thể nói, người vợ nhặt được miêu tả ít, song đó lại là nhân vật không thể thiếu trong tác phẩm. Thiếu Thị, Tràng vẫn chỉ là Tràng của ngày xưa; bà cụ Tứ vẫn lặng thầm trong đau khổ, cùng cực. Chính Thị đã thổi một luồng sinh khí, một luồng gió mới vào cuộc sống tối tăm, nghèo khổ của Tràng, làm ngời sáng lên niềm tin vào cuộc sống. Viết về sự đổi thay trong tâm tính của Thị, Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo. Tình cảm nhân đạo của nhà văn thể hiện ở đây. Chính vì thế, cả hai ý kiến nêu trên ta thấy đều đúng, xác đáng. Thị nghèo khổ, cùng đường, liều lĩnh nhưng đáng thương hơn là đáng giận bởi đằng sau cái cùng đường liều lĩnh ấy là phẩm chất ham sống, giàu lòng tự trọng và khát vọng vượt lên thảm cảnh nạn đói để được sống cho một ánh sáng ngày mai.

Tóm lại, người vợ nhặt là một sáng tạo của Kim Lân. Thông qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Con người ta dù sống trong hoàn cảnh khốn cùng nào cũng sẽ luôn hướng về tương lai và không bao giờ mất đi niềm tin vào sự sống. Thông qua hình ảnh nhân vật Thị nhà văn như phanh phui, lột trần bộ mặt thối nát của bọn thực dân và bọn cường quyền lộng hành, chính vì tội ác của chúng mà làm thân phận con người chỉ đáng vài bát bánh đúc, chính chúng là thủ phạm hủy hoại tương lai của biết bao con người. Chính Thị là một hình tượng mà nhà văn Kim Lân đã dựng lên để nói với nhân dân và bè lũ độc ác kia rằng người phụ nữ Việt Nam nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung không bao giờ từ bỏ sự sống ở bất cứ hoàn cảnh nào.

Nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 14

Kim Lân là một trong số ít những nhà văn thành công khi viết về cái nghèo, cái đói để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. Khi viết về cái đói, Kim Lân không dừng lại ở việc khơi gợi lòng thương cảm, xót xa mà còn tạo ra một nỗi ghê sợ, ám ảnh về sức mạnh hủy diệt của nó đối với nhân phẩm và thể xác con người. Tuy nhiên, với thông điệp “Hãy tin ở con người”, hầu hết nhân vật của Kim Lân, đến cuối truyện luôn tìm về với bản chất tốt đẹp, đáng quý của mình. Đại diện cho kiểu nhân vật này, chúng ta có thể kể đến người vợ nhặt trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn. Đây là nhân vật bị cái đói xui khiến, sẵn sàng vứt bỏ tự tôn, nhắm mắt đưa chân theo người xa lạ vì một miếng ăn. Nhưng, ở đâu đó trong con người Thị vẫn luôn tồn tại những phẩm chất đáng trân trọng của một người phụ nữ truyền thống: đảm đang, biết vun vén gia đình và cũng đầy tinh tế, ý nhị.

Vợ nhặt là truyện ngắn được sáng tác năm , lấy bối cảnh của nạn đói Ất Dậu 1945. Đây là tai họa vô cùng khủng khiếp trong lịch sử dân tộc ta cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người. Kim Lân đã dựng lên khung cảnh “tối sầm vì đói khát”. Ở đó, “người chết như ngả rạ, không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường”. Còn người sống thì lay lắt, thê thảm bởi họ sống nhưng lại chắc rằng cái chết đang chờ đợi mình ở phía trước. Nạn đói hoành hành dữ dội. Cái đói, cái chết dồn ép con người vào thế chông chênh của kiếp người. Trần gian nối tiếp địa ngục, khoảng cách giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

Nhân vật người vợ nhặt hiện lên trong tác phẩm không tên tuổi, không gốc gác, quê quán, không người thân, họ hàng. Kim Lân gọi nhân vật bằng đại từ phiếm chỉ “Thị, ả, người đàn bà” cho thấy thân phận mờ nhạt, đáng thương của nhân vật. “Thị” có thể là bất cứ người đàn bà khốn khổ, nghèo đói nào ngoài kia, họ cũng đang chết dần chết mòn về cả hình hài và nhân phẩm trong cái đói. Chỉ vài câu miêu tả ngắn ngủi, Kim Lân đã cho thấy sự hiện hình của cái đói trên khuôn mặt Thị: “Áo quần tả tơi như tổ đỉa, Thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.” Ngoại hình của Thị khiến người ta liên tưởng đến một bóng ma, một xác chết hơn là một con người. Thị là đại diện cho hàng triệu con người bần cùng, đói rách, tha phương cầu thực và rồi sẽ chết gục nơi đầu đường xó chợ.

Không chỉ là hình dáng bên ngoài, đến cả vẻ dịu dàng, nữ tính thiên bẩm của người phụ nữ ở Thị cũng bị cái đói bóp méo đến thảm hại. Thị đanh đá, táo bạo đến mức trơ trẽn, thậm chí vứt bỏ liêm sỉ.

Lần đầu tiên gặp Tràng, chỉ vì một câu “hò cho đỡ nhọc” của Tràng: “ Muốn ăn cơm trắng mấy giò/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh”, Thị đã cong cớn bám lấy rồi “vùng đứng dậy” đẩy xe cho Tràng. Lần thứ hai, Thị đến trước mặt Tràng “sưng sỉa” “nhắc chuyện cũ”. Sau đó, Thị lại không ngại ngùng “ngồi sà xuống ăn một chập bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Trong con mắt của chúng ta, Thị sao mà vô duyên, trơ trẽn quá. Thị hành động theo bản năng sinh tồn, cái đói làm mờ nhân phẩm Thị. Thậm chí, đến cả việc lấy chồng, theo một người đàn ông về nhà chung sống cả đời Thị cũng quyết định hoàn toàn theo bản năng. Vin vào câu nói bông đùa của Tràng: “Này nói đùa chứ, có về ở với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” mà “Thị về thật”. Không cần mai mối, không cần cưới hỏi, không cần mâm cao cỗ đầy, Thị theo không Tràng với hy vọng có miếng ăn.

Tuy nhiên, Thị đáng thương nhiều hơn đáng trách. Vẫn biết Thị tự bán rẻ nhân cách, hạ thấp nhân phẩm của mình, lấy chồng theo cái cách đầy mỉa mai và chua xót, được người ta nhặt về như món đồ rơi. Thế nhưng, tựu chung lại cũng vì cái đói bức bách làm khát vọng sống, bản năng sinh tồn trỗi dậy trong con người Thị. Thị giống như người đang chới với giữa dòng nước lũ, chỉ một cánh tay đưa về phía mình thì dù nó nhỏ bé, yếu đuối cũng mang lại một niềm hi vọng được sống. Việc Thị cố gắng dùng mọi cách nắm lấy bàn tay kia vốn không sai, không đáng xấu hổ. Rất nhiều bậc nam nhi “đội trời đạp đất” giữa sống và chết cũng sẽ lựa chọn như vậy, huống chi Thị chỉ là một người phụ nữ bình thường.

Tuy nhiên, Kim Lân không hề dừng lại việc khắc họa nhân vật người vợ nhặt ở sự trơ trẽn, vô duyên. Như chúng ta đã biết, thông điệp khi viết về cái đói của nhà văn là “hãy tin ở con người”. Chính vì vậy, trong nhân vật người vợ nhặt là cả một sự đối lập giữa bề ngoài và nội tâm, ban đầu và về sau. Nếu ban đầu Thị cong cớn, chỏng lỏn và chao chát thì sau khi theo Tràng về nhà, Thị trở lại là người phụ nữ với nét tâm hồn đáng quý, đáng yêu.

Thị cũng biết xấu hổ, ngượng ngùng như bao cô gái lần đầu về nhà chồng.Trên đường về nhà cùng Tràng, khi biết mọi người xung quanh đang nhìn mình, Thị “ngượng nghịu chân nọ bước víu cả vào chân kia”. Đằng sau vẻ ngoài rách rưới, xấu xí, Thị cũng có lòng tự trọng. Thị hiểu vì sao người ta nhìn mình và xì xào bàn tán. Giữa cái đận đói khát, khi tình yêu là thứ xa xỉ, họ lại dắt díu nhau về để rồi “biết có qua nổi cái thì này không” . Khi về đến nhà, Thị chỉ dám “ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”. Đứng trước mặt mẹ chồng, Thị chỉ dám “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt” ngay cả khi nghe bà cụ Tứ bảo ngồi xuống, “Thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ”. Và người đọc có lẽ đã phải ồ lên đầy ngạc nhiên trước hành động “củng tay vào trán” Tràng và mắng yêu: “chỉ được cái thế là nhanh. Dơ!”. Thị giường như đã biến thành con người khác hẳn, giống như thiếu nữ e lệ mới về nhà chồng mà không phải người đàn bà chao chát, đanh đá, chua ngoa ban đầu nữa.

Trở thành vợ Tràng, người đàn bà đã làm tốt thiên chức của người phụ nữ, Thị đảm đang, khéo léo, biết thu vén gia đình, “là người đàn bà hiền hậu đúng mực”. Thị như một cơn gió mát lành thổi vào cuộc sống u ám của mẹ con Tràng. Dưới bàn tay người phụ nữ, mọi thứ được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng. “Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn gàng.Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”. Chỉ là những thay đổi hết sức nhỏ nhặt nhưng dường như Thị đã mang đến cả một thế giới khác cho mẹ con Tràng. Đối với Tràng, hắn cảm thấy “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Còn bà cụ Tứ thì “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. Ở cuối truyện, chính người vợ nhặt đã dấy lên trong lòng Tràng biết bao dự định, hi vọng thay đổi cuộc sống , Thị nói: “Ở trên mạng Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Chính câu nói của Thị đã gợi lên trong đầu Tràng “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. Có thể không lâu nữa, hắn cũng sẽ đứng trong hàng ngũ những người đi phá kho thóc Nhật, thay đổi số phận của mình và gia đình. Vậy mới thấy hơi ấm tình người có ý nghĩa biết nhường nào. Mẹ con Tràng sẵn sàng cưu mang người khác trong cảnh đói khát và có lẽ họ đã nhận lại nhiều hơn thế. Chính người đàn bà đói khát lại làm cho cuộc sống của họ hồi sinh một lần nữa.

Không chỉ làm tròn trách nhiệm của một người vợ, một người con dâu trong gia đình, nhân vật người vợ nhặt còn là một người phụ nữ cam chịu, hi sinh và có lòng cảm thông sắc. Theo một người đàn ông xa lạ về nhà, Thị hi vọng có nơi bấu víu để vượt qua cơn đói khát. Thế nhưng, khi về tới nhà Tràng, nhìn gia cảnh của mẹ con hắn, Thị không khỏi cất tiếng thở dài thất vọng. Điều đó khiến Thị không khỏi thất thần, buồn bã trước hoàn cảnh mới, trước số phận trớ trêu của mình. Mặc dù vậy, Thị đã không bỏ đi, tình nghĩa, sự cam chịu níu giữ chân Thị ở lại cùng với mẹ con Tràng hướng về tương lai tốt đẹp hơn. Bữa cơm đầu tiên thảm đạm với niêu cháo mà mỗi người có hai lưng bát đã hết nhẵn. Khi mẹ chồng múc cho Thị bát cháo cám, “hai con mắt tối sầm” nhưng “Thị vẫn điềm nhiên và vào miệng”. Thị hòa mình vào cuộc sống gia đình. Bát cháo cám đắng chát trong cổ khiến Thị không khỏi tủi hờn nhưng Thị không hề tỏ ra thất vọng hay chán nản bởi Thị hiểu hoàn cảnh của gia đình chồng. Có lẽ, hơn ai hết, Thị hiểu rằng, chính hai con người nghèo khổ kia đã không ngại đói nghèo mà cưu mang, che chở mình, đối với Thị, họ là ân nhân, là người Thị mang ơn. Và cũng có thể, nếu không có Tràng và bà cụ Tứ, ngay cả cháo cám Thị cũng không có để ăn, phải chết đói nơi đầu đường, xó chợ.

Nhân vật người vợ nhặt được Kim Lân khắc họa chỉ bằng vài câu miêu tả ngắn ngủi nhưng đây có thể coi là nhân vật không thể thiếu trong tác phẩm. Thị không chỉ là nhân vật mang thông điệp đầy tính nhân văn của nhà văn, khẳng định niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của con người mà còn là nhân tố tạo nên bước chuyển mình độc đáo của tác phẩm. Không có Thị, hai mẹ con Tràng sẽ mãi mãi bị vùi lấp trong cuộc sống tăm tối, lặng lẽ và câu chuyện có lẽ sẽ kết thúc theo một hướng nào đó bi đát, tồi tệ hơn, đồng thời cũng không thể gây cho người đọc sự thương cảm, xót xa sâu sắc đến thế.

Thông qua hình tượng nhân vật người vợ nhặt, Kim Lân đã gửi gắm đến độc giả rất nhiều chiêm nghiệm sâu sắc. Đó có thể là lời nhắn nhủ: Đôi khi những thứ ta tận mắt thấy lại không hẳn là sự thật, hãy khoan phán xét con người qua hình dáng hay hành động nhất thời, chỉ có thời gian mới mang đến câu trả lời hoàn hảo. Nhân vật Thị có thể đanh đá, chua ngoa, trơ trẽn trước sự đe dọa của cái đói nhưng bản chất của Thị là người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp, đáng quý mà nếu anh cu Tràng không cho Thị cơ hội, nhưng điều đó sẽ mãi chẳng ai biết tới. Đó cũng có thể là triết lí về sức mạnh của tình người, hãy cứ cho đi và chúng ta sẽ nhận được thứ vô giá hơn gấp bội. Giống như nhân vật Thị khi được mẹ con Tràng cưu mang đã làm cho cuộc sống của họ mới mẻ tươi đẹp hơn, đáng sống hơn. Có thể nói, nhân vật không chỉ đưa chúng ta đến những nhận thức mới mẻ về con người mà còn làm dâng lên trong lòng người đọc niềm thương cảm, chua xót cho thân phận rẻ rúng, đau khổ của người phụ nữ trong đói nghèo và chết chóc.

Nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Mẫu 15

Vợ nhặt là tác phẩm đặc sắc, tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Kim Lân. Nội dung truyện kể về anh Tràng ở xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe bò thuê. Giữa trận đói kinh hoàng nuôi thân còn khó, thế mà bất ngờ, anh dám đèo bòng thêm cô vợ nhặt. Kim Lân đã sáng tạo ra tình huống nhặt vợ rất độc đáo, đồng thời vận dụng ngôn ngữ bình dân tự nhiên, mộc mạc để khắc họa tính cách của từng nhân vật. Từ bà cụ Tứ đến anh Tràng và người vợ nhặt, nhân vật nào cũng sinh động và chân thực.

Ngay cái tên truyện là Vợ nhặt cũng gợi cho người đọc nhiều liên tưởng thú vị. Nhân vật vợ nhặt được tác giả miêu tả rất tinh tế, phù hợp với diễn biến tâm trạng ở từng tình huống khác nhau. Chị đã đem lại niềm vui ấm áp và hạnh phúc gia đình cho mẹ con Tràng trong cảnh ngộ mấp mé giữa sự sống và cái chết. Vì thế nhân vật này chứa đựng ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần hoàn thiện giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

Thường thường, các nhân vật trong tác phẩm dù là chính hay phụ đều có một cái tên để gọi, để phân biệt giữa nhân vật này với nhân vật khác. Đôi khi, tên nhân vật cũng bao hàm một dụng ý nào đó của tác giả hoặc có thể toát lên tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Truyện ngắn vợ nhặt của Kim Lân đã được nhà văn Nguyễn Khải nhận xét là : “Dường như chẳng có gì cả nhưng lại có khả năng làm kinh động lòng người”. Cho nên, khi tác giả cố tình không đặt tên cho nhân vật của mình và lấy nhân vật không tên ấy làm nhan đề tác phẩm thì chắc hẳn đó là một dụng ý nghệ thuật sâu xa.

Cốt truyện xoay quanh sự kiện “ nhặt vợ ” bất ngờ và trớ trêu của anh Tràng. Nhà Tràng chỉ có hai mẹ con ở cái xóm nghèo ven chợ. Là dân ngụ cư nên Tràng bị khinh rẻ. Đã thế, anh ta vừa luống tuổi lại vừa xấu trai nên ế vợ. Trong hoàn cảnh bình thường, Tràng không thể cưới được vợ, ấy vậy mà giữa nạn đói khủng khiếp, anh ta lại “nhặt” được “vợ” một cách tầm phơ tầm phào, chẳng cần phải cưới xin gì.

Nhân vật vợ nhặt xuất hiện trong bối cảnh trận đói năm 1945 đang diễn ra vô cùng khủng khiếp. Người chết đói như ngả rạ. Quạ bay vù vù như những đám mây đen trên nền trời. Đoàn người chạy đói từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt như những bóng ma xanh xám, nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

Chẳng ai biết gốc tích của chị ta ở đâu? Cha mẹ là ai? Anh em thế nào? Tất cả đều không. Chỉ biết ngày ngày, chị ngồi lẫn vào đám đàn bà con gái tụ tập trước cửa kho thóc để nhặt nhanh hạt rơi hạt vãi hay chờ có ai thuê mướn việc gì thì làm để kiếm sống. Về hình thức, chị ta cũng giống như bao kẻ đói khát khác : Áo quần tả tơi như tổ đỉa… người gầy vêu vao, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt… Chị là hiện thân của hàng triệu con người bần cùng, đói rách, tha phương cầu thực và rồi sẽ chết gục nơi đầu đường xó chợ.

Lần đầu, chị ta xuất hiện trước mắt Tràng với cách nói năng đối đáp tỏ ra bạo dạn. Chị quen Tràng bởi câu hò chơi cho đỡ nhọc của anh và những lời chòng ghẹo của mọi người. Khi nghe Tràng hò : Muốn ăn cơm trắng mấy giò này Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì và bị mấy cô bạn đẩy vai chòng ghẹo… thị cười như nắc nẻ, cong cớn nói với Tràng: Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy ? Thị lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, đùa bỡn với anh và liếc mắt cười tít làm cho anh Tràng thích lắm.

Chuyện chỉ có thế và Tràng cũng quên ngay. Lần sau, Tràng vừa trả hàng xong đang ngồi uống nước ở ngoài cổng chợ tình thì thị ở đâu sầm sầm chạy đến, sưng sỉa trách anh: Điêu! Người thế mà điêu ! Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt. Gặp lại chị ta, Tràng không nhận ra vì chị ta khác quá. Một lúc sau nhớ ra, Tràng toét miệng cười, đon đả: Này hẵng ngồi xuống ăn miếng giầu đã. Chị ta ngúng nguẩy: Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu. Thấy Tràng vỗ vào túi khoe Rích bố cu… hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả : Ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì.

Chị ta đang đói. Đói lắm! Cái đói cào cấu ruột gan khiến chị ta quên hẳn ý tứ của một người con gái trước người đàn ông chỉ mới quen một hai lần: Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng rồi vừa thở vừa khen: Hà, ngon! Mê mải ăn như chưa từng được ăn bao giờ, như thế là chị ta không phải mới đói một ngày mà đã đói cả tuần, đói sắp chết.

Quả là cái đói đã đẩy lùi sĩ diện và nhân cách. Tuy nhiên, ăn xong chị ta cũng biết đùa cho đỡ xấu hổ : về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố. Tràng cười nhạt: Làm đếch gì có vợ, rồi tự nhiên bật ra câu nói: Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Tưởng giỡn cho vui, ai ngờ chị ta theo về thật. Thế là chị ta thành vợ Tràng cứ như là một trò đùa. Hay nói như tác giả là chuyện tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng.

Người đàn bà ấy đã chấp nhận theo không một gã đàn ông xa lạ, xấu xí trước hết là để có miếng ăn, sau là để có một nơi nương tựa cho khỏi chết đói chứ đã có tình cảm gì với nhau đâu ?! Nghĩ cũng xấu hổ nên trên đường theo “chồng” về nhà, chị ta chả biết nói gì, chỉ ngượng ngùng và khó chịu khi thấy mọi người nhìn mình bằng con mắt tò mò.

Một người đàn ông mới quen đôi lần, nay hào phóng đãi ăn một bữa no, ngoài ra không biết tính tình ra sao, gia cảnh thế nào, chỉ nghe nói là chưa có vợ, ấy vậy mà chị ta đi theo ngay, không đắn đo, sợ hãi gì. Liều lĩnh chăng? Nhẹ dạ chăng? Mặc kệ! Theo anh ta để được ăn, được sống cái đã! Vợ chồng là chuyện lâu dài, biết đâu mà tính trước. Khỏi đói, khỏi chết lúc này là quan trọng nhất. Mọi cái khác thứ yếu tất. Thế mới biết cái đói ghê gớm, kinh khủng biết chừng nào!

Trên đường theo Tràng về nhà, chị ta vừa xấu hổ, tủi nhục lại vừa lo lắng, phấp phỏng, xấu hổ, tủi nhục vì dẫu có lâm vào bước đường cùng thì chị ta cũng không sao tránh khỏi tiếng xấu là “đàn bà theo giai” trong xã hội phong kiến đầy rẫy những định kiến nặng nề lúc đó. Còn lo lắng, phấp phỏng vì không biết liệu cái anh chàng mà chị đánh liều theo về làm vợ này có giúp chị thoát khỏi chết đói và những người trong gia đình anh ta có thông cảm mà chấp nhận chị hay không?

Chuyện làm “vợ” đến với chị quá bất ngờ khiến lòng chị không yên. Bên cạnh dáng điệu phởn phở khác thường của Tràng, vẻ e thẹn, ngượng ngập của chị ta lại càng nổi bật : Người đàn bà đi sau hắn chừng ba bốn bước. Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Nhà văn thật sự đã hiểu thấu tâm trạng và thể hiện được những gì đang diễn ra trong lòng người đàn bà ấy kể từ Khi chị đặt bước trên con đường xa lạ. Nhận lời làm vợ Tràng rồi theo anh về nhà, bước đầu chị ta đã có được vẻ nhu mì, khép nép của một cô dâu. Chắc là với chị, con đường ấy dài dằng dặc, bởi không biết cái gì đang chờ đợi chị, liệu chị có được đón nhận một cách dễ dàng? Liệu hành động “Cũng liều nhắm mắt đưa chân” này có mang lại cho chị được chút hạnh phúc ấm áp nào chăng hay lại khốn nạn hơn, cay đắng hơn tình cảnh của chị bây giờ ?! Bao nhiêu lo lắng, phấp phỏng khiến chị sốt ruột bật ra câu hỏi: sắp đến chưa ? vẫn chưa đến à ? Rồi lại: Nhà có ai không ?

Về tới nhà Tràng, thấy cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại, trong nhà, niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất, thì chị ta không khỏi chán nản, thất vọng: Thị đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài. Hóa ra gia cảnh của anh chàng mới ban trưa còn vỗ vỗ vào túi khoe rích bố cu là thế này đây! Chị còn biết làm sao được nữa? Việc đã rồi ! Thất vọng, buồn tủi, chua xót quá nên mặc cho Tràng lăng xăng, đon đả, chị ta nhếch mép cười nhạt nhẽo. Tràng mời ngồi, chị ta chỉ ngồi mớm xuống mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần…

Nghệ thuật miêu tả kĩ càng, tỉ mẩn của Kim Lân ở chi tiết tưởng như rất bình thường này khiến người đọc phải chú ý. Sao đã được Tràng mời ngồi mà chị chỉ ngồi mớm xuống mép giường? Thì ra cái thế ngồi tạm bợ, dè dặt ấy cũng là cái thế của tâm trạng ngổn ngang trăm mối. Liệu chỗ ngồi này có phải là của chị không ? Liệu mái nhà cũ kĩ, xiêu vẹo này có phải là nơi chị dung thân ? Đặc biệt là cảnh chị ta hai tay ôm khư khư cái thúng mặt bần thần.

Phải chăng vì căn nhà rúm ró của mẹ con Tràng quá chật chội, chị ta chẳng biết để cái thúng vào đâu? Hay vì giờ đây, cái thúng là tài sản duy nhất nên chị chẳng nỡ rời? Hay là chị ta sẽ bỏ đi ngay? Chị bần thần vì ngỡ ngàng, vì mải nghĩ tới chuyện bỗng dưng thành vợ của mình. Nó là thực mà cứ như không phải thực, khó có thể tin là sự thực. Làm vợ, làm dâu mà như thế này ư? Lấy chồng, đám cưới, rước dâu… Cái hạnh phúc lớn nhất của đời người con gái chị có được hưởng chút nào đâu? Buồn lắm ! Tủi lắm ! Chị không nói được nên lời bởi cất tiếng, chắc chắn chị sẽ khóc. Nỗi đau không trào ra thành nước mắt mà chảy ngược vào trong nên càng đau, càng tủi.

Lâm vào cái cảnh phải theo không Tràng, chị ta vừa tủi phận, vừa ngượng ngập. Gặp bà cụ Tứ, chị e thẹn, khép nép. Trước khi gặp Tràng, hoàn cảnh nghiệt ngã khiến chị ta có lúc thành ra kẻ trơ trẽn, trâng tráo, nhưng bản chất chị ta không phải như vậy. Tuy nhiên, ngòi bút của Kim Lân không chỉ tinh tế mà còn rất nhân hậu. Ông không muốn xoáy sâu vào những nỗi trớ trêu xót xa, đau lòng ấy. Khi viết truyện ngắn vợ nhặt, mặc dầu lấy bối cảnh là nạn đói khủng khiếp do phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra đầu năm Ất Dậu (1945) làm hơn hai triệu đồng bào từ miền Bắc đến miền Trung bị chết đói, nhưng dù trong tình huống bi thảm đến đâu, thậm chí kề bên cái chết thì nhân vật của Kim Lân vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn tin vào cuộc sống và hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống cho ra con người.

Ở cuối truyện, cái khát vọng mãnh liệt được sống, được hạnh phúc của nhân vật vợ nhặt đã bộc lộ ra một cách hồn hậu, tự nhiên. Tuy không tìm thấy sự no đủ nhưng dẫu sao chị cũng vơi bớt được nỗi lo khi biết nhà Tràng chỉ có một mẹ già. Chị hiểu như thế là ít có khả năng bị hắt hủi, xua đuổi. Mà đấy chẳng phải đã là một nửa sự sống rồi sao?

Trước sự cảm thông, sẵn lòng chấp nhận của người mẹ già và sự cưu mang của Tràng, chị đã trở thành một người đàn bà khác hẳn. Nếu như hôm qua, cái đói đã làm mất đi những gì là nữ tính ở chị thì hôm nay, chỉ sau một bữa ăn no, một đêm ngủ ấm dưới mái nhà bình yên thì vẻ đẹp ấy đã trở về với chị. Chị bắt đầu vun vén cho tổ ấm của mình. Chị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang. Có bàn tay săn sóc của chị, căn nhà tồi tàn, tăm tối của mẹ con Tràng như sáng sủa, gọn ghẽ hẳn ra. Sự sống đã trở về với người, với cảnh. Sự thay đổi ấy khiến Tràng không khỏi ngạc nhiên: Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Cho đến lúc này, chị mới có cảm giác chuyện làm vợ của mình là thật. Người đàn bà vô danh nhưng không vô nghĩa bởi chị đã đem lại niềm vui và sinh khí cho mẹ con Tràng.

Nét đẹp bên trong của người vợ nhặt còn thể hiện qua một chi tiết rất nhỏ. Trong bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng, khi mẹ chồng đưa cho bát chè cám, hai con mắt chị ta thoảng tối lại, nhưng ngay sau đó, chị điềm nhiên và vào miệng. Đây là một chi tiết rất đắt, thể hiện sự tinh tế trong nhận thức và sự khéo léo trong cách cư xử của người đàn bà tưởng như vô học nọ. Chị hiểu ra cơ sự của mẹ con Tràng nhưng chị không muốn làm mất đi niềm vui của người mẹ chồng già nua, tội nghiệp. Bà đang mừng vì cuối cùng thằng con trai vừa nghèo vừa xấu vừa đứng tuổi của mình cũng đã có vợ, dẫu rằng đó chỉ là cô vợ nhặt.

Điều đặc biệt thú vị là trong bữa ăn ấy, người nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này lại là một bà cụ gần đất xa trời ; còn người nói đến phong trào đấu tranh chống thuế, phá kho thóc của Nhật, chia cho người đói lại chính là chị vợ nhặt người đàn bà không tên trong tác phẩm. Hình ảnh từng đoàn những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp và lá cờ đỏ bay phấp phới hiện lên trong tâm trí của Tràng báo hiệu sắp có một sự đổi thay ghê gớm. Hình ảnh ấy là một luồng gió mạnh xô đi, cuốn đi ám khí ngột ngạt của câu chuyện đáng buồn này.

Nhiều người cho rằng ở truyện ngắn Vợ nhặt; nhân vật bà cụ Tứ, người mẹ nhân hậu và từng trải khiến người đọc xúc động nhất. Điều ấy quả không sai, nhưng đọc đến những dòng chữ cuối cùng thì điều ám ảnh tâm trí người đọc lại là hình ảnh người vợ nhặt của anh Tràng. Bằng nghệ thuật miêu tả chân thực, sinh động và tinh tế, nhà văn Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh người vợ nhặt người đàn bà vô danh.

Đây là một nhân chứng có ý nghĩa tố cáo, lên án tội ác tày trời của Nhật Pháp đã gây ra nạn đói khủng khiếp đẩy nhân dân ta vào cảnh lầm than, không được sống đúng nghĩa là một con người. Qua tác phẩm Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân gián tiếp khẳng định: Trong đói khổ, hoạn nạn, kề bên cái chết, những con người nghèo khổ nếu biết dựa vào nhau, san sẻ vật chất và tình thương cho nhau thì chính là vừa tự cứu mình, vừa cứu người. Những con người như vậy nhất định phải được sống ấm no, hạnh phúc.

……………..

Mời các bạn tải File tài liệu để xem thêm phân tích Người vợ nhặt

Mô tả công việc của kế toán kho

Mẫu bảng mô tả công việc kế toán kho Tải về

Mô tả công việc của kế toán kho

Kế toán kho trong doanh nghiệp là một vị trí vô cùng quan trọng, quản lý được kho hàng hóa chính xác nhằm tránh được những rủi ro mất mát cho doanh nghiệp. Bài viết dưới đây mô tả chi tiết những công việc mà kế toán kho cần phải làm, mời các bạn tham khảo.

Bảng mô tả công việc nhân viên Thủ kho

Mẫu bảng mô tả công việc của kế toán thanh toán

Bản mô tả công việc của kế toán nội bộ

Công việc hàng ngày của nhân viên kế toán kho:

– Kiểm tra tính hợp lệ của các hóa đơn, chứng từ liên quan trước khi thực hiện Nhập/ xuất kho

– Hạch toán việc nhập xuất kho, vật tư, đảm bảo sự chính xác và phù hợp của các khoản mục chi phí và vụ việc công trình.

– Phối hợp với kế toán công nợ đối chiếu số liệu phát sinh hàng ngày.

-Xác nhận kết quả kiểm, đếm, giao nhận hóa đơn, chứng từ và ghi chép sổ sách theo quy định.

– Lập chứng từ nhập xuất, hóa đơn bán hàng.

– Lập báo cáo tồn kho, báo cáo nhập xuất tồn.

– Kiểm soát nhập xuất tồn kho.

– Thường xuyên: kiểm tra việc ghi chép vào thẻ kho của thủ kho, hàng hóa vật tư trong kho được sắp xếp hợp lý chưa, kiểm tra thủ kho có tuân thủ các qui định của công ty. Đối chiếu số liệu nhập xuất của thủ kho và kế toán.

– Trực tiếp tham gia kiểm kê đếm số lượng hàng nhập xuất kho cùng thủ kho, bên giao, bên nhận.

– Tham gia công tác kiểm kê định kỳ ( hoặc đột xuất).

– Chịu trách nhiệm biên bản kiểm kê, biên bản đề xuất

Hàng tháng kế toán kho phải làm những công việc gì?

– Lập báo cáo xuất nhập tồn kho

-Tham gia kiểm kho cùng thủ kho

-Thực hiện các công việc phát sinh khác theo sự phân công của cấp trên

Công việc của kế toán kho

Yêu cầu công việc đối với kế toán kho

  • Thi hành nghiệp vụ chính xác và đúng qui định, nắm vững các kiến thức chuyên môn về kế toán.
  • Kỹ năng giao tiếp, sắp xếp công việc và quản lý chứng từ tốt.
  • Thành thạo vi tính văn phòng, thành thạo MS Word, Excel, phần mềm kế toán.
  • Cần mẫn, cẩn thận, có trách nhiệm với công việc.
  • Có sức khỏe tốt, nhanh nhẹn, hoạt bát, trung thực, nghiêm túc trong công việc
  • Đam mê công việc,hòa đồng và có khả năng chịu được áp lực công việc cao.

Lưu ý khi làm kế toán kho

Khi xuất nhập hàng

  • Kiểm tra các chứng từ yêu cầu nhập/xuất hàng theo đúng quy định.
  • Thực hiện việc nhập và xuất hàng cho cá nhân liên quan.
  • Nhận các chứng từ giao hàng, yêu cầu xuất hàng, lưu và chuyển cho bộ phận mua hàng hoặc kế toán theo quy định.

Theo dõi hàng hóa xuất nhập tồn

  • Ghi phiếu nhập, phiếu xuất kho, phiếu ghi chú trên các kệ chứa hàng
  • Trực tiếp nhập phiếu xuất vào phần mềm.
  • Theo dõi số lượng xuất nhập tồn hàng ngày và đối chiếu với định mức tồn kho tối thiểu.

Theo dõi hàng tồn kho tối thiểu

  • Đảm bảo tất cả các loại hàng hóa phải có định mức tồn kho tối thiểu.
  • Nếu số lượng hàng hóa xuất/nhập biến động, phải đề xuất Giám Đốc thay đổi định mức tồn kho tối thiểu cho phù hợp.
  • Theo dõi số lượng tồn kho tối thiểu hàng ngày.

Thực hiện thủ tục đặt hàng của kho

  • Định kỳ theo kế hoạch lập các phiếu yêu cầu mua hàng hoặc đơn hàng nhập khẩu.
  • Theo dõi quá trình nhập hàng thông qua phiếu ghi chú trên giá kệ hàng, đôn đốc việc mua hàng.
  • Trực tiếp làm thủ tục mua hàng và theo dõi nhập hàng.

Sắp xếp hàng hóa trong kho

  • Trực tiếp sắp xếp các loại hàng hóa trong kho.
  • Sắp xếp hàng hóa tránh bị ướt, đổ vỡ…
  • Lập sơ đồ kho và cập nhật sơ đồ kho khi có phát sinh hàng hóa.

Đảm bảo tiêu chuẩn hàng hóa trong kho

  • Sắp xếp hàng hóa trong kho đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
  • Với loại hàng mau hư thì phải quản lý theo nguyên tắc nhập trước xuất trước FIFO

Tuân thủ quy định về phòng cháy chữa cháy (PCCC) và an toàn trong kho

  • Tuyệt đối đảm bảo quy tắc PCCC trong kho.
  • Định kỳ hàng tháng kiểm tra lại các giá kệ chứa hàng tránh kệ bị gãy đổ…

Mẫu quyết định nghỉ việc 2022 chuẩn nhất

Mục lục bài viết

Hiện tại, việc người lao động nghỉ việc diễn ra phổ biến tại các doanh nghiệp, công ty hay tổ chức, đơn vị khác. Theo đó, khi mà người lao động nghỉ thì phía người sử dụng lao động sẽ soạn thảo mẫu quyết định nghỉ việc để quyết định rằng cá nhân đó sẽ chấm dứt các quyền và nghĩa vụ sau khi các bên đã hoàn thành xong nghĩa vụ mà pháp luật quy định.

Vậy quyết định nghỉ việc được hiểu như thế nào?, Khi nào bên phía người sử dụng lao động sẽ ra quyết định nghỉ việc?, cách soạn thảo mẫu, mẫu quyết định nghỉ việc, mẫu quyết định nghỉ việc hưởng bảo hiểm thất nghiệp, mẫu quyết định thôi việc cho Giám đốc.

Mời quý vị tham khảo nội dung bài viết dưới đây của Luật Hoàng Phi để nắm rõ và tìm ra lời giải đáp những vướng mắc trên.

Quyết định nghỉ việc là gì?

Quyết định nghỉ việc là một loại văn bản được sử dụng trong các công ty, doanh nghiệp, đơn vị nào đó để quyết định cho cá nhân nào để nghỉ việc tại đó, theo đó việc nghỉ việc của lao động có thể do ý chí của bên người lao động hoặc bên người sử dụng lao động.

Trường hợp nào cần ra quyết định nghỉ việc?

Hiện tại, việc ra quyết định nghỉ việc được doanh nghiệp thực hiện trong những trường hợp cụ thể như dưới đây:

– Hết hạn hợp đồng lao động

– Đã hoàn tất các công việc được ghi theo hợp đồng lao động

– Người lao động thuộc trường hợp đủ điều kiện để hưởng lương hưu

– Hai bên là người lao động và người sử dụng lao động tự thỏa thuận và đồng ý về chấm dứt hợp đồng lao động

– Người lao động thuộc trường hợp chấp hành án tù giam, tử hình hoặc người lao động bị cấm làm công việc nào đó được ghi tại hợp đồng lao động trước đó theo quyết định, bản án từ Tòa án.

– Người lao động bị chết hoặc bị Tòa án tuyên bố bị mất tích, bị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự

– Người lao động bị xử lý kỷ luật (theo hình thức sa thải)

– Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc do sáp nhập, chia tách, hợp nhất doanh nghiệp; thay đổi công nghệ, cơ cấu mà người lao động phải thôi việc.

– Người lao động tự đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

– Người sử dụng lao động mà là cá nhân mà bị chết hoặc bị Tòa án tuyên bố bị chết, mất tích hoặc bị tuyên bố về mất năng lực hành vi dân sự; người sử dụng lao động lại không phải là chủ thể cá nhân chấm dứt hoạt động.

Các trợ cấp mà người lao động được hưởng khi nghỉ việc đúng quy định

– Trợ cấp thôi việc: đây là khoản trợ cấp được công ty chi trả, theo đó cần đáp ứng đủ điều kiện như sau để được hưởng

+ Người lao động đã làm việc là thường xuyên mà đủ 12 tháng trở lên

Lưu ý: Trường hợp mà đủ điều kiện hưởng lương hưu thì sẽ không được hưởng trợ cấp này

+ Là một trong những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động: tại một số khoản của điều 34 Bộ Luật Lao động 2019

Điều 34. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

[…] 6. Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

[…] 9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này…

– Trợ cấp thất nghiệp: khoản trợ cấp này sẽ do người lao động thực hiện nộp hồ sơ tại trung tâm dịch vụ việc làm và đáp ứng đủ điều kiện sau:

+ Đóng đủ 12 tháng trong vòng 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động

+ Nộp hồ sơ đề nghị hưởng trong vòng 3 tháng tính từ khi chấm dứt hợp đồng lao động

+ Nộp đủ các giấy tờ và hồ sơ theo quy định

– Bảo hiểm xã hội một lần: Là trợ cấp mà người lao động cần nộp hồ sơ lên cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền, đảm bảo đủ các điều kiện như sau:

+ Chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu ví dụ như đủ tuổi nhưng chưa đủ số năm đóng bảo hiểm xã hội hoặc chưa đủ về tuổi cũng như số năm đóng bảo hiểm xã hội

+ Nghỉ việc sau 1 năm mà không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

+ Nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định

Lưu ý: một số trường hợp không bắt buộc phải nộp hồ sơ sau 1 năm sau khi nghỉ việc ví dụ: bị mắc các bệnh hiểm nghèo, định cư nước ngoài,….

Cách ghi mẫu quyết định nghỉ việc

Hiện tại, chưa có văn bản quy định nào quy định rõ một mẫu cụ thể về quyết định nghỉ việc, tuy vậy về cơ bản thì để đảm bảo được thống nhất và đầy đủ thì cần thể hiện các nội dung như dưới đây:

– Ghi quốc hiệu, tiêu ngữ trình bày trên cùng giữa trang giấy

– Tên quyết định là: quyết định cho nghỉ việc/thôi việc

– Người có thẩm quyền ra quyết định cho nghỉ việc

Ví dụ: giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn/ công ty cổ phần/….

– Căn cứ để ra quyết định nghỉ việc này

– Nội dung của bản quyết định:

+ Cho ông/bà? hiện đang giữ chức vụ gì được nghỉ việc từ ngày tháng năm nào?

+ Các bộ phận, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm trong việc thi hành quyết định này?

Ông/bà……………………..

……………………………..

……………………………..

+ Ký và ghi rõ họ tên giám đốc/ban lãnh đạo

+ Nơi nhận, gồm ông/bà……………; bộ phận………….

Mẫu quyết định nghỉ việc

Mẫu số 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ———-o0o———-

QUYẾT ĐỊNH

V/v cho thôi việc

GIÁM ĐỐC CÔNG TY TNHH/CỔ PHẦN DỊCH VỤ DU LỊCH Q

– Căn cứ Bộ Luật Lao động;

– Hợp đồng lao động đã ký ngày 20/12/2021

– Xét việc hợp đồng lao động với ông Nguyễn Văn Mạnh hết hạn hợp đồng.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay cho Ông: Nguyễn Văn Mạnh giữ chức vụ nhân viên phòng kế toán được nghỉ việc kể từ ngày 21/12/2022

Điều 2: Ông: Nguyễn Văn Mạnh và các Ông (Bà) phó giám đốc hành chính, bộ phận kế toán chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:

– Như điều 2

– Lưu hồ sơ

Giám đốc (Ký và ghi rõ họ tên)

Hoàng

Phạm Văn Hoàng

Mẫu số 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ———-o0o———-

QUYẾT ĐỊNH

V/v cho thôi việc

GIÁM ĐỐC CÔNG TY THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ X

Căn cứ Bộ luật Lao động hiện hành

Căn cứ Hợp đồng lao động số 08/HĐLĐ ngày 20 tháng 12 năm 2020 giữa Công ty thương mại và dịch vụ với Ông Nguyễn Văn Mạnh

Xét đơn xin nghỉ việc của Ông Nguyễn Văn Hùng

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Nay cho Ông/Bà: Nguyễn Văn Hùng

Giữ chức vụ:

Nhân viên nhân sự

Bộ phận: Nhân sự

Được nghỉ việc từ ngày 21 tháng 12 năm 2022

Lý do:

Ông Nguyễn Văn Hùng xin nghỉ việc vì lý do hoàn cảnh gia đình

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày giám đốc ký.

Ông Nguyễn Văn Hùng và phòng Hành chính Nhân sự và các bộ phận có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:

– Ông Nguyễn Văn Hùng

– Bộ phận nhân sự

– Bộ phận kế toán…

Giám đốc

(Ký và ghi rõ họ tên)

Quân

Phạm Văn Quân

Tải (Download) Mẫu quyết định nghỉ việc

Download Tại Đây

Mẫu quyết định nghỉ việc hưởng bảo hiểm thất nghiệp

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ———-o0o———-

QUYẾT ĐỊNH

V/v cho nghỉ việc

GIÁM ĐỐC CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ H

– Căn cứ Bộ Luật Lao động;

– Hợp đồng lao động đã ký ngày 01/10/2019

– Xét Đơn xin nghỉ việc của Bà Phạm Thu Thanh

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay cho Bà Phạm Thu Thanh giữ chức vụ nhân viên kinh doanh được nghỉ việc kể từ ngày 01/10/2022 do hợp đồng lao động hết thời hạn.

Điều 2: Bà Phạm Thu Thanh và phó giám đốc hành chính, bộ phận kinh doanh và các bộ phận có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:

– Như điều 2

– Lưu hồ sơ

Giám đốc (Ký và ghi rõ họ tên)

Toàn

Nguyễn Xuân Toàn

Tải (Download) Mẫu quyết định nghỉ việc hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Download Tại Đây

Mẫu quyết định thôi việc cho Giám đốc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ———-o0o———-

QUYẾT ĐỊNH

V/v cho thôi việc

GIÁM ĐỐC CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT GIẤY IN

– Căn cứ Bộ Luật Lao động;

– Hợp đồng lao động đã ký ngày: 01/01/2020

– Xét Đơn xin nghỉ việc của Bà Trần Thị Hồng Hạnh

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay cho Bà Trần Thị Hồng Hạnh giữ chức vụ nhân viên kế toán được nghỉ việc kể từ ngày 21/12/2022

Điều 2: Bà Trần Thị Hồng Hạnh và các phó giám đốc hành chính, kế toán và các bộ phận có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Nơi nhận

– Như điều 2

– Lưu văn bản

Giám đốc

(ký và ghi rõ họ tên)

Phương

Nguyễn Thị Phương

Tải (Download) Mẫu quyết định thôi việc cho giám đốc

Download Tại Đây

Mẫu quyết định thôi việc đối với giáo viên

TrườngTHCS A CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

——-***——

QUYẾT ĐỊNH

Về việc cho thôi việc đối với giáo viên

Trường THCS A

– Căn cứ vào quyết định 03/QĐTV, ngày 22/12/2005 về việc thành lập Trường THCS A

– Căn cứ văn bản về việc quy định phân công, phân cấp về quản lý trường học;

– Xét đơn xin nghỉ việc ông Trần Tuấn Anh là giáo viên trường trung học cơ sở A

– Xét quá trình tham gia công tác từ ngày 1/1/2019

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Nay thuận giải quyết cho ông Trần Tuấn Anh giáo viên thuộc trường THCS A được thôi việc kể từ ngày 21/12/2022;

Điều 2. Ông Trần Tuấn Anh được hưởng các khoản phụ cấp, trợ cấp theo chế độ hiện hành;

Điều 3. Các Ông (bà) Trưởng phòng Hành chính, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, Trưởng phòng Kế toán- tài vụ, ông Trần Tuấn Anh có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Nơi nhận:

– Như điều 3

– Lưu Văn phòng

Thủ trưởng

(ký, đóng dấu và ghi rõ họ tên)

Tải (Download) Mẫu quyết định thôi việc đối với giáo viên

Download Tại Đây

Mẫu quyết định nghỉ việc không hưởng lương mới nhất

CÔNG TY ……………………….

Số: ………/……/QĐ – GĐ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Hà Nội, ngày ….tháng…. năm……..

QUYẾT ĐỊNH

(V/v: Nghỉ việc không hưởng lương)

GIÁM ĐỐC CÔNG TY ………………………………………………

Căn cứ:

Bộ Luật Lao động Việt Nam 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

– Căn cứ tình hình thực tiễn hoạt động kinh doanh của công ty.

.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Tạm thời nghỉ việc không hưởng lương là: 02 tháng kể từ ngày …./…./…… đến ngày …./…./…… đối với:

Ông: ………………… Sinh ngày: ………………..

CCCD/CMND số: ………………………………….

Địa chỉ: ……………………………………………………………………

Điều 2: Ban lãnh đạo Công ty, toàn thể cán bộ, nhân viên trong công ty và các thành viên khác có liên quan có trách nhiệm thực hiện quyết định này.

Điều 3: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.

Nơi nhận:

– Như ­­ Điều 2;

– L­­ưu VP ./.

GIÁM ĐỐC

Trên đây, là toàn bộ nội dung liên quan đến mẫu quyết định nghỉ việc , định nghĩa về quyết định nghỉ việc?, các trường hợp doanh nghiệp cần ra quyết định thôi việc, cách soạn thảo mẫu, mẫu quyết định nghỉ việc, mẫu quyết định nghỉ việc hưởng bảo hiểm thất nghiệp, mẫu quyết định thôi việc cho Giám đốc. Mọi thắc mắc liên quan đến bài viết mời quý vị liên hệ qua tổng đài 1900 6557 để được tư vấn nhanh nhất.

Mẫu Đơn xin miễn, giảm học phí dành cho học sinh, sinh viên

1. Mẫu đơn xin miễn, giảm học phí cho học sinh công lập

Tải về Sửa/In biểu mẫu

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_____________________

ĐƠN ĐỀ NGHỊ MIỄN, GIẢM HỌC PHÍ

(Dùng cho cha mẹ (hoặc người giám hộ) trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên công lập)

Kính gửi: Tên cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập.

Họ và tên (1) :………………………………………………………………………………………….

Là cha/mẹ (hoặc người giám hộ) của em (2) :………………………………………………

Hiện đang học tại lớp:……………………………………………………………………………….

Trường:…………………………………………………………………………………………………..

Thuộc đối tượng: (ghi rõ đối tượng được quy định tại Nghị định số…)

Căn cứ vào Nghị định số …/2021/NĐ-CP của Chính phủ, tôi làm đơn này đề nghị được xem xét để được miễn, giảm học phí theo quy định hiện hành.

…, ngày… tháng … năm…

Người làm đơn (3)

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

(1) Đối với đối tượng là trẻ em mẫu giáo ghi tên cha mẹ (hoặc người giám hộ), đối với học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên ghi tên của học sinh.

(2) Nếu là học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên trực tiếp viết đơn thì không phải điền dòng này.

(3) Cha mẹ (hoặc người giám hộ)/học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên.

2. Mẫu đơn xin miễn, giảm học phí cho sinh viên trường công

Tải về Sửa/In biểu mẫu

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

________________________

ĐƠN ĐỀ NGHỊ MIỄN, GIẢM HỌC PHÍ

(Dùng cho học sinh, sinh viên đang học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập)

Kính gửi: Tên cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập.

Họ và tên:……………………………………………………………………………………………….

Ngày, tháng, năm sinh:……………………………………………………………………………..

Nơi sinh:…………………………………………………………………………………………………

Lớp:…………………… Khóa:………………………………………… Khoa:…………………….

Mã số sinh viên:……………………………………………………………………………………….

Thuộc đối tượng: (ghi rõ đối tượng được quy định tại Nghị định số …/2021/NĐ-CP)

Đã được hưởng chế độ miễn giảm học phí (ghi rõ tên cơ sở đã được hưởng chế độ miễn giảm học phí, cấp học và trình độ đào tạo):

Căn cứ vào Nghị định số …/2021/NĐ-CP của Chính phủ, tôi làm đơn này đề nghị được Nhà trường xem xét để được miễn, giảm học phí theo quy định hiện hành.

…, ngày… tháng … năm…

Người làm đơn (3)

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

3. Mẫu đơn đề nghị hỗ trợ chi phí học tập Tải về

Sửa/In biểu mẫu

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_________________________

ĐƠN ĐỀ NGHỊ HỖ TRỢ CHI PHÍ HỌC TẬP (Dùng cho các đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập theo quy định tại Nghị định số …/2021/NĐ-CP)

Kính gửi: Tên cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông.

Họ và tên (1):…………………………………………………………………………………………..

Là cha/mẹ (hoặc người giám hộ) của em (2):……………………………………………….

Hiện đang học tại lớp:……………………………………………………………………………….

Trường:…………………………………………………………………………………………………..

Thuộc đối tượng: (ghi rõ đối tượng được quy định tại Nghị định số …./2021/NĐ-CP)

Căn cứ vào Nghị định số …/2021/NĐ-CP của Chính phủ, tôi làm đơn này đề nghị được xem xét để được cấp tiền hỗ trợ chi phí học tập theo quy định hiện hành.

…, ngày… tháng … năm…

Người làm đơn (3)

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

(1) Đối với đối tượng là trẻ em mẫu giáo ghi tên cha mẹ (hoặc người giám hộ), đối với học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên ghi tên của học sinh.

(2) Nếu là học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên trực tiếp viết đơn thì không phải điền dòng này.

(3) Cha mẹ (hoặc người giám hộ)/học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên.

4. Mẫu đơn đề nghị miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập

Tải về Sửa/In biểu mẫu

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

______________________

ĐƠN ĐỀ NGHỊ MIỄN GIẢM HỌC PHÍ VÀ HỖ TRỢ CHI PHÍ HỌC TẬP

(Dùng cho các đối tượng được hưởng đồng thời chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo quy định tại Nghị định số …./2021/NĐ-CP)

Kính gửi: Tên cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông.

Họ và tên (1) :………………………………………………………………………………………….

Là cha/mẹ (hoặc người giám hộ) của em (2):……………………………………………….

Hiện đang học tại lớp:……………………………………………………………………………….

Trường:…………………………………………………………………………………………………..

Thuộc đối tượng: (ghi rõ đối tượng được quy định tại Nghị định số …/2021/NĐ-CP)

Căn cứ vào Nghị định số …/2021/NĐ-CP của Chính phủ, tôi làm đơn này đề nghị được xem xét để được miễn giảm học phí và cấp tiền hỗ trợ chi phí học tập theo quy định hiện hành.

…, ngày… tháng … năm…

Người làm đơn (3)

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

(1) Đối với đối tượng là trẻ em mẫu giáo ghi tên cha mẹ (hoặc người giám hộ), đối với học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên ghi tên của học sinh.

(2) Nếu là học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên trực tiếp viết đơn thì không phải điền dòng này.

(3) Cha mẹ (hoặc người giám hộ)/học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên.

5. Mẫu Đơn đề nghị chi trả tiền miễn, giảm học phí học sinh trường tư

Tải về

Sửa/In biểu mẫu

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_____________________

ĐƠN ĐỀ NGHỊ CHI TRẢ TIỀN MIỄN, GIẢM HỌC PHÍ, HỖ TRỢ TIỀN ĐÓNG HỌC PHÍ

(Dùng cho cha mẹ (hoặc người giám hộ) trẻ em mẫu giáo và học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên dân lập, tư thục)

Kính gửi: Tên cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông dân lập, tư thục.

Họ và tên (1) :………………………………………………………………………………………….

Là cha/mẹ (hoặc người giám hộ) của em (2) :………………………………………………

Hiện đang học tại lớp:……………………………………………………………………………….

Là học sinh trường:…………………………………………………………………………………..

Thuộc đối tượng: (ghi rõ đối tượng được quy định tại Nghị định số …/2021/NĐ-CP)

Căn cứ vào Nghị định số …/2021/NĐ-CP của Chính phủ, em làm đơn này đề nghị được xem xét để được cấp bù tiền miễn giảm học phí, cấp hỗ trợ tiền đóng học phí cho học sinh tiểu học tư thục theo quy định và chế độ hiện hành.

…, ngày… tháng … năm…

Người làm đơn (3)

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

(1) Đối với đối tượng là trẻ em mẫu giáo ghi tên cha mẹ (hoặc người giám hộ) đối với học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên ghi tên của học sinh.

(2) Nếu là học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên trực tiếp viết đơn thì không phải điền dòng này.

(3) Cha mẹ (hoặc người giám hộ)/học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên.

6. Mẫu Đơn đề nghị chi trả tiền miễn, giảm học phí sinh viên trường tư

Tải về

Sửa/In biểu mẫu

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_____________________

ĐƠN ĐỀ NGHỊ CHI TRẢ TIỀN MIỄN, GIẢM HỌC PHÍ (Dùng cho học sinh, sinh viên đang học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học tư thục)

Kính gửi: Tên cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học tư thục.

Họ và tên:………………………………………………………………………………………………..

Ngày, tháng, năm sinh:……………………………………………………………………………..

Nơi sinh:…………………………………………………………………………………………………

Lớp:……………………. Khóa Khoa:………………………………………..

Họ tên cha/mẹ học sinh, sinh viên:……………………………………………………………..

Hộ khẩu thường trú (ghi đầy đủ):……………………………………………………………….

Xã (Phường):…………………………………. Huyện (Quận):…………………………………

Tỉnh (Thành phố):…………………………………………………………………………………….

Thuộc đối tượng: (ghi rõ đối tượng được quy định tại Nghị định số …/2021/NĐ-CP)

Căn cứ vào Nghị định số …./2021/NĐ-CP của Chính phủ, tôi làm đơn này đề nghị được xem xét, giải quyết để được cấp bù tiền hỗ trợ miễn, giảm học phí theo quy định và chế độ hiện hành.

…, ngày… tháng … năm…

Người làm đơn (3)

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

(1) Đối với đối tượng là trẻ em mẫu giáo ghi tên cha mẹ (hoặc người giám hộ), đối với học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên ghi tên của học sinh.

(2) Nếu là học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên trực tiếp viết đơn thì không phải điền dòng này.

(3) Cha mẹ (hoặc người giám hộ)/học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên.

don xin mien giam hoc phiMẫu đơn xin miễn giảm học phí (Ảnh minh họa)

7. Hồ sơ xin miễn, giảm học phí​ gồm những giấy tờ gì?

Hồ sơ xin miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ tiền đóng học phí được quy định tại Điều 19 Nghị định 81 bao gồm những giấy tờ sau:

(1) Đơn đề nghị miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ tiền đóng học phí.

(2) Bản sao chứng thực hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc bản sao từ sổ gốc giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng miễn, giảm học phí đối với các đối tượng sau:

– Trường hợp miễn học phí

  • Giấy xác nhận thuộc đối tượng được miễn học phí theo quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng.
  • Giấy xác nhận khuyết tật do Ủy ban nhân dân (UBND) xã cấp hoặc Quyết định trợ cấp xã hội của Chủ tịch UBND cấp huyện với đối tượng học sinh, sinh viên khuyết tật.

  • Quyết định trợ cấp xã hội của Chủ tịch UBND huyện đối với: Trẻ mẫu giáo và học sinh dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng; người từ 16 tuổi đến 22 tuổi đang học phổ thông, đại học văn bằng thứ nhất thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; Người học trung cấp, cao đẳng mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa.
  • Giấy xác nhận hộ nghèo do UBND xã cấp cho trẻ mẫu giáo và học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên có cha hoặc mẹ hoặc cả cha mẹ hoặc ông bà (trường hợp ở với ông bà) thuộc diện hộ nghèo.

  • Giấy chứng nhận được hưởng chế độ miễn học phí đối với thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ;
  • Giấy khai sinh và giấy xác nhận hộ nghèo hoặc cận nghèo do UBND xã cấp cho học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số có cha hoặc mẹ hoặc cả cha mẹ hoặc ông bà ( trường hợp ở với ông bà) thuộc hộ nghèo hoăhộ cận nghèo; học sinh, sinh viên người dân tộc rất ít người.

  • Giấy khai sinh và sổ hộ khẩu thường trú hoặc xác nhận của công an về đăng ký thường trú (trường hợp sổ hộ khẩu bị thất lạc) đối với: trẻ mầm non 05 tuổi, học sinh trung học cơ sở ở thôn/bản đặc biệt khó khăn, xã khu vực III vùng dân tộc miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo; học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người.
  • Bằng tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS) hoặc giấy xác nhận tốt nghiệp tạm thời đối với người tốt nghiệp THCS học tiếp lên trình độ trung cấp.

– Trường hợp giảm học phí, hỗ trợ tiền đóng học phí

  • Giấy khai sinh và sổ hộ khẩu thường trú hoặc xác nhận của cơ quan công an về việc đăng ký thường trú (trường hợp sổ hộ khẩu bị thất lạc) đối với: trẻ mẫu giáo và học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số ở thôn/bản đặc biệt khó khăn, xã khu vực III dân tộc miền núi, xã vùng bãi ngang ven biển hải đảo; học sinh tiểu học tư thục ở địa bàn không đủ trường công lập được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí.
  • Sổ hưởng trợ cấp hàng tháng của cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp đối với trẻ mẫu giáo và học sinh, sinh viên là con cán bộ, công chức, viên chức, công nhân.

  • Giấy xác nhận hộ cận nghèo do UBND xã cấp cho đối tượng trẻ mẫu giáo và học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên có cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ hoặc ông bà (trong trường hợp ở với ông bà) thuộc diện hộ cận nghèo.

Lưu ý:

– Đối với trẻ mầm non và học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên vừa được miễn, giảm học phí vừa được hỗ trợ chi phí học tập, chỉ phải làm 01 bộ hồ sơ các giấy tờ liên quan nói trên kèm đơn theo mẫu đơn đề nghị miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập.

– Đối tượng thuộc diện được miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập chỉ phải làm 01 bộ hồ sơ nộp lần đầu cho cả thời gian học tập.

Riêng đối với người thuộc diện hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo thì vào mỗi đầu học kỳ phải nộp bổ sung giấy xác nhận hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo để làm căn cứ xem xét miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho kỳ học tiếp theo.

– Trường hợp có thẻ căn cước công dân và thông tin về nơi thường trú có thể khai thác từ việc kết nối và chia sẻ dữ liệu về dân cư thì cha mẹ (hoặc người giám hộ) không phải nộp Giấy khai sinh và Sổ hộ khẩu thường trú.

Trên đây là mẫu Đơn xin miễn giảm học phí mới nhất cho học sinh, sinh viên. Nếu còn thắc mắc về mẫu đơn này, bạn đọc vui lòng liên hệ 1900.6192 để được hỗ trợ.

>> Thủ tục, hồ sơ xin miễn, giảm học phí mới nhất

>> Toàn bộ đối tượng được miễn, giảm học phí từ 15/10/2021

>> Lộ trình tăng học phí từ năm học 2022 – 2023 của học sinh, sinh viên

Mẫu kế hoạch giáo dục năm học 2021 – 2022 Mẫu kế hoạch dạy học theo Công văn 5512, SGK mới

Mẫu kế hoạch giáo dục năm học 2021 – 2022 được lập ra cho giáo viên lên kế hoạch giảng dạy các môn học trong bộ sách mới trong năm học tới.

Ngoài ra, thầy cô có thể tham khảo thêm cả mẫu khung kế hoạch giáo dục ban hành theo Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường, cùng kế hoạch giáo dục môn Sinh học 9, Ngữ văn 6 sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Vậy mời thầy cô cùng theo dõi bài viết dưới đây của TTTD.VN:

Kế hoạch giáo dục năm học 2021 – 2022

  • Khung kế hoạch giáo dục của giáo viên theo Công văn 5512
  • Mẫu kế hoạch giáo dục của giáo viên theo Công văn 5512
  • Mẫu Kế hoạch giáo dục của giáo viên môn Ngữ văn 6 sách Kết nối tri thức với cuộc sống
  • Khung kế hoạch giáo dục của giáo viên năm học 2021 – 2022
  • Khung kế hoạch giáo dục môn Toán năm học 2021 – 2022
  • Mẫu kế hoạch giáo dục môn Tiếng Việt sách Kết nối tri thức với cuộc sống

Khung kế hoạch giáo dục của giáo viên theo Công văn 5512

Phụ lục IIIKHUNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊN(Kèm theo Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Bộ GDĐT)

TRƯỜNG: …………………………TỔ: …………………………………

Họ và tên giáo viên: …………….

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊNMÔN HỌC/HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC …………………….., LỚP…………

(Năm học 20….. – 20…..)

I. Kế hoạch dạy học

1. Phân phối chương trình

STTBài học(1)Số tiết(2)Thời điểm(3)Thiết bị dạy học(4)Địa điểm dạy học(5)12…

2. Chuyên đề lựa chọn(đối với cấp trung học phổ thông)

STTChuyên đề (1)Số tiết (2)Thời điểm (3)Thiết bị dạy học (4)Địa điểm dạy học (5)12…

(1) Tên bài học/chuyên đề được xây dựng từ nội dung/chủ đề (được lấy nguyên hoặc thiết kế lại phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường) theo chương trình, sách giáo khoa môn học/hoạt động giáo dục.

(2) Số tiết được sử dụng để thực hiện bài dạy/chuyên đề.

(3) Tuần thực hiện bài học/chuyên đề.

(4) Thiết bị dạy học được sử dụng để tổ chức dạy học.

(5) Địa điểm tổ chức hoạt động dạy học (lớp học, phòng học bộ môn, phòng đa năng, bãi tập, tại di sản, thực địa…).

2. Nhiệm vụ khác (nếu có): (Bồi dưỡng học sinh giỏi; Tổ chức hoạt động giáo dục…)

………………………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………………………..

TỔ TRƯỞNG(Ký và ghi rõ họ tên)

… ngày….. tháng…. năm……

GIÁO VIÊN(Ký và ghi rõ họ tên)

Mẫu kế hoạch giáo dục của giáo viên theo Công văn 5512

TRƯỜNG: THCS………………..TỔ: Tự nhiên 2Họ và tên giáo viên:……………….

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊNMÔN HỌC/HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SINH HỌC; LỚP 9 A(Năm học 2021 – 2022)

I. Kế hoạch dạy học

1. Phân phối chương trình

STT/TIẾT

Bài học

(1)

Số tiết

(2)

Thời điểm/tuần

(3)

Thiết bị dạy học

(4)

Địa điểm dạy học

(5)

37

Công nghệ tế bào

01

19

Tranh vẽ H31 sgk, tranh một số loài được nhân bản vô tính.

Lớp học

38

Công nghệ gen

01

Tranh H32 sgk, tranh minh họa thành tựu công nghệ gen.

Lớp học

39

Bài 34. Thoái hóa do tự thụ phấn và do giao phối gần

01

20

H 34.1 ® 4. sgk phóng to.

Lớp học

40

Bài 35. Ưu thế lai

01

– Một số tranh ảnh về tạo giống vật nuôi, cây trồng.

– Tài liệu về thành tựu tạo ƯTL

Lớp học

41

Bài 39. Thực hành: Tìm hiểu thành tựu chọn giống vật nuôi và cây trồng

01

21

– Một số tranh hoặc ảnh về các giống vật nuôi: bò lai F1, lợn lai F1, vịt lai F1, gà lai F1, cá lai F1, giống lúa, giống đậu tương ( hoặc lạc, dưa), ngô lai.

– Chuẩn bị phiếu học tập và bảng phụ ghi nội dung bảng 39/115.

Lớp học

42

Ôn tập phần di truyền và biến dị

01

Bảng phụ, câu hỏi và bài tập vận dụng.

Lớp học

43

Bài 41. Môi trường và các nhân tố sinh thái.

01

22

– Tư liệu như SGK /117

– Tranh H41.1 / SGK , PHT.

Lớp học

44

Bài 42. Ảnh hưởng của ánh sáng lên đời sống sinh vật.

01

– Tranh hình SGK. Bảng phụ 42.1/SGK; 42.1/SGV-140

– Một số cây: lá lốt, vạn niên thanh, lúa…

Lớp học

45

Bài 43. Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm lên đời sống sinh vật

01

23

– Tranh Tranh H43.1-3

– Bảng phụ 43.1-2 SGK

Lớp học

46

Bài 44. Ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sinh vật.

01

– Bảng phụ ghi nội dung bảng (44 SGK).

– Tranh hình 44.1, 44.2, 44.3 SGK.

Lớp học

47

Bài 45. Thực hành: Tìm hiểu môi trường và ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật

02

24

– Kẹp ép cây, giấy báo, kéo

– Giấy kẻ li, bút chì, vợt bắt côn trùng

– Băng hình về môi trường sống của SV

Thực địa

48

Bài 46. Thực hành: Tìm hiểu môi trường và ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật

Lớp học

49

Bài 47. Quần thể sinh vật

01

25

– Tranh về quần thể thực vật, động vật. PHT (Bảng 47.2)

Lớp học

50

Ôn tập giữa học kì II

01

Hệ thống câu hỏi và bài tập về chương 1, 2

Lớp học

51

Kiểm tra giữa học kì II

26

Ma trận, đề thi, đáp án

Lớp học

52

Bài 48. Quần thể người

01

– Tranh vẽ H48. PHT(Bảng 48.1)

– Tư liệu về dân số ở Việt Nam từ năm 2005- 2010

– Tranh ảnh tuyên truyền về dân số

Lớp học

53

Bài 49. Quần xã sinh vật

01

27

Tranh H49.1-2/sgk-147.Sưu tầm thêm tài liệu về quần xã SV.

Lớp học

54

Bài 50. Hệ sinh thái

02

– Máy chiếu (Tranh hệ sinh thái: rừng nhiệt đới, Sanvan, rừng ngập mặn…)

– Tranh một số động vật được cắt rời: con thỏ, hổ sư tử, chuột, dê, trâu….

Hệ thống bài tập về hệ sinh thái

Thực địa

Lớp học

55

Bài 51. Thực hành: Hệ sinh thái

28

– Dao con, dụng cụ đào đất, vợt bắt côn trùng, túi nilon. Kính lúp, giấy, bút

– Băng hình về các hệ sinh thái

Thực địa

56

Bài 52. Thực hành: Hệ sinh thái

01

Lớp học

57

Bài 53. Tác động của con người đối với môi trường

01

29

– Tư liệu về môi trường, hoạt động của con người tác động đến môi trường.

– PHT

Lớp học

58,

Chủ đề 4: Ô nhiễm môi trường

02

– Tranh hình sgk, tranh ảnh thu thập được trên báo.

– Tư liệu về ô nhiễm môi trường

Lớp học

59

Chủ đề 4: Ô nhiễm môi trường

30

Lớp học

60

Bài 56, 57. Thực hành: Tìm hiểu tình hình môi trường địa phương

02

– Giấy bút

– Bảng phụ 56.1, 56.2, 56.3 (sgk trang 170,171, 172)

Thực địa

61

Bài 56, 57. Thực hành: Tìm hiểu tình hình môi trường địa phương

31

Lớp học

62

Bài 58. Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

01

– Tranh ảnh về các mỏ khai thác, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên. Bảng phụ.

– Tư liệu về tài nguyên thiên nhiên

– Phiếu học tập: Sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước, rừng

Lớp học

63

Bài 59. Khôi phục môi trường và gìn giữ thiên nhiên hoang dã.

01

32

– Tranh hình 59.1

– Bảng phụ 59, sgk trang 179

Lớp học

64

Bài 60. Bảo vệ đa dạng các hệ sinh thái.

01

– Tranh ảnh về hệ sinh thái. Bảng phụ (ghi nội dung bảng 60.1 sgk)

– Tư liệu về môi trường và hệ sinh thái.

Lớp học

65

Bài 61. Luật bảo vệ môi trường

01

33

– Nội dung chương 2, chương 3 của Luật bảo vệ môi trường

Lớp học

66

Bài 62. Thực hành: Vận dụng Luật bảo vệ môi trường vào việc bảo vệ môi trường ở địa phương

01

– Giấy, bút

– Nội dung Luật bảo vệ môi trường

Lớp học

67

Bài 64, 65, 66. Tổng kết chương trình toàn cấp

Bài 64, 65, 66. Tổng kết chương trình toàn cấp

02

34

– Bảng phụ: Nội dung bảng 64.1 à 64.6, bảng ghi báo cáo của nhóm

– Bảng phụ: Nội dung bảng 65.1 à 65.5, bảng ghi báo cáo của nhóm- Bảng phụ: Nội dung bảng 66.1 à 66.5, bảng ghi báo cáo của nhóm

Lớp học

68

Lớp học

69

Bài 63. Ôn tập cuối kỳ II

01

35

Hệ thống câu hỏi và bài tập phần sinh vật và môi trường

Lớp học

70

Kiểm tra cuối kỳ II

01

Ma trận, đề thi, đáp án

Lớp học

2. Chuyên đề lựa chọn (không)

II. Nhiệm vụ khác (nếu có): (Bồi dưỡng học sinh giỏi; Tổ chức hoạt động giáo dục…)

– Bồi dưỡng học sinh giỏi

TỔ TRƯỞNG(Ký và ghi rõ họ tên)

…….., ngày…… tháng…… năm……

GIÁO VIÊN(Ký và ghi rõ họ tên)

Mẫu Kế hoạch giáo dục của giáo viên môn Ngữ văn 6 sách Kết nối tri thức với cuộc sống

PHỤ LỤC IIIHUNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊN(Kèm theo Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Bộ GDĐT)

TRƯỜNG:……………………………

TỔ: KHOA HỌC XÃ HỘI

Họ và tên giáo viên: ………………..

CỘNGHÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊNMÔN HỌC/HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGỮ VĂN LỚP 6(Năm học 2021 – 2022)

I. Kế hoạch dạy học

1. Khung phân bố số tiết cho các nội dung dạy học (phần bổ sung so với 5512 của Sở)

Học kì

Các chủ đề lớn (phần, chương…, có thể chèn thêm nhiều dòng tuỳ theo nội dung của bộ môn)

Lý thuyết

Bài tập/luyện tập

Thực hành

Ôn tập

Kiểm tra giữa kì

Kiểm tra cuối kì

Khác (tăng thời lượng, tiết trả bài, chữa bài …, có thể kẻ thêm nhiều cột nếu cần)

Tổng

Học kì I

BÀI 1. TÔI VÀ CÁC BẠN

7

4

5

0

0

0

0

16

BÀI 2 . GÕ CỬA TRÁI TIM

6

3

3

0

0

0

0

12

BÀI 3.YÊU THƯƠNG VÀ CHIA SẺ

6

3

4

0

2

0

0

15

BÀI 4. QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

5

3

4

0

0

0

0

12

BÀI 5. NHỮNG NẺO ĐƯỜNG XỨ SỞ

6

4

3

2

2

0

17

Tổng học kì I

30

17

19

2

2

2

0

72

Học kì II

BÀI 6. CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG

6

3

4

0

0

0

0

13

BÀI 7. THẾ GIỚI CỔ TÍCH

6

4

4

0

0

0

0

14

BÀI 8.KHÁC BIỆT VÀ GẦN GŨI

4

5

4

0

2

0

0

15

BÀI 9. TRÁI ĐẤT – NGÔI NHÀ CHUNG

6

4

4

0

0

0

0

14

BÀI 10.CUỐN SÁCH TÔI YÊU

6

2

0

2

0

2

0

12

Tổng học kì II

28

18

16

2

2

2

0

68

Cả năm

58

35

35

4

4

4

0

140

2. Phân phối chương trình

  • Cả năm: 35 tuần (140 tiết)
  • Học kì I: 18 tuần (72 tiết)
  • Học kì II: 17 tuần (68 tiết)

HỌC KÌ I

Tiết thứ

Bài học

Tên bài học

(1)

Số tiết

(2)

Thời điểm

(3)

Thiết bị dạy học

(4)

Địa điểm dạy học

(5)

1

BÀI 1.

TÔI VÀ CÁC BẠN

(16 tiết)

Giới thiệu bài học và tri thức ngữ văn

1

Tuần 1

Máy tính

Lớp học

2,3

Bài học đường đời đầu tiên

2

Tuần 1

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Bài học đường đời đầu tiên (tiếp)

Tuần 1

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

4

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 1

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

5,6

Nếu cậu muốn có một người bạn…

2

Máy tính, phiếu học tập

Lớp học

Nếu cậu muốn có một người bạn… (tiếp)

Tuần 2

Máy tính, phiếu học tập

Lớp học

7

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 2

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

8,9

Bắt nạt

2

Tuần 2

Lớp học

Bắt nạt (tiếp)

Tuần 2,3

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

10,11

12

Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em

3

Tuần 3

Phiếu học tập

Lớp học

Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em (tiếp)

Tuần 3

Phiếu học tập

Lớp học

Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em (tiếp)

Tuần 3

Phiếu học tập

Lớp học

13,14

Thực hành: Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em

2

Tuần 4

Phiếu học tập

Lớp học

Thực hành: Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em (tiếp)

Tuần 4

Phiếu học tập

Lớp học

15,16

Nói và nghe: Kể lại một trải nghiệm của em

2

Tuần 4

Phiếu học tập

Lớp học

Tuần 4

Phiếu học tập

Lớp học

Lớp học

Nói và nghe: Kể lại một trải nghiệm của em

17

BÀI 2.

GÕ CỬA TRÁI TIM

(12 tiết)

Giới thiệu bài học và tri thức ngữ văn

1

Tuần 5

Máy tính

Lớp học

18,19

Chuyện cổ tích về loài người

2

Tuần 5

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Lớp học

Chuyện cổ tích về loài người (tiếp)

Tuần 5

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

20

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 5

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

21

Mây và sóng

1

Tuần 6

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

22

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 6

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

23,24

Bức tranh của em gái tôi

2

Tuần 6

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Bức tranh của em gái tôi (tiếp)

Tuần 6

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

25,26

Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ có yếu tố tự sự và miêu tả

2

Tuần 7

Phiếu học tập

Lớp học

Tuần 7

Phiếu học tập

Lớp học

Lớp học

Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ có yếu tố tự sự và miêu tả

27

Thực hành: Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ có yếu tố tự sự và miêu tả

1

Tuần 7

Phiếu học tập

Lớp học

28

Nói và nghe: Trình bày ý kiến về một vấn đề trong đời sống gia đình

1

Tuần 7

Phiếu học tập

Lớp học

29

BÀI 3.

YÊU THƯƠNG VÀ CHIA SẺ

(12 tiết)

ĐỌC MỞ RỘNG

(1 tiết)

Giới thiệu bài học và tri thức ngữ văn

1

Tuần 8

Máy tính

Lớp học

30,31

Cô bé bán diêm (tiếp)

2

Tuần 8

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Cô bé bán diêm (tiếp)

Tuần 8

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

32

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 8

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

33,34

Gió lạnh đầu mùa

2

Tuần 9

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Gió lạnh đầu mùa (tiếp)

Tuần 9

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

35

Kiểm tra giữa học kì 1

2

Tuần 9

Đề KT

Lớp học

36

Kiểm tra giữa học kì 1

Tuần 9

Đề KT

Lớp học

37

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 10

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

38

Con chào mào

1

Tuần 10

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

39

Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em

1

Tuần 10

Phiếu học tập

Lớp học

40,41

Thực hành: Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em

2

Tuần 10

Phiếu học tập

Lớp học

Thực hành: Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em (tiếp)

Tuần 11

Phiếu học tập

Lớp học

42

Nói và nghe: Kể về một trải nghiệm của em

1

Tuần 11

Phiếu học tập

Lớp học

43

Đọc mở rộng

1

Tuần 11

Phiếu học tập

Lớp học

44

BÀI 4. QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

(12 tiết)

Giới thiệu bài học và tri thức ngữ văn

1

Tuần 11

Máy tính

Lớp học

45

Chùm ca dao về quê hương, đất nước

1

Tuần 12

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

46

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 12

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

47

Chuyện cổ nước mình

1

Tuần 12

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

48,49

Cây tre Việt Nam

2

Tuần 12

Máy tính, phiếu học tập,

Lớp học

Cây tre Việt Nam (tiếp)

Tuần 12

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

50

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 13

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

51

Tập làm một bài thơ lục bát

1

Tuần 13

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

52,53

Viết đoạn văn thể hiện cảm xúc về một bài thơ lục bát

2

Tuần 13

Phiếu học tập,

Lớp học

Viết đoạn văn thể hiện cảm xúc về một bài thơ lục bát (tiếp)

Tuần 13

Phiếu học tập,

Lớp học

54

Thực hành: Viết đoạn văn thể hiện cảm xúc về một bài thơ lục bát

1

Tuần 13

Phiếu học tập,

Lớp học

55

Nói và nghe: Trình bày suy nghĩ về tình cảm của con người với quê hương

1

Tuần 14

Phiếu học tập,

Lớp học

56

BÀI 5. NHỮNG NẺO ĐƯỜNG XỨ SỞ

(12 tiết)

ÔN TẬP VÀ KIỂM TRA HỌC KÌ I

(4 tiết)

ĐỌC MỞ RỘNG

(1 tiết)

Giới thiệu bài học và tri thức ngữ văn

1

Tuần 14

Máy tính

Lớp học

57,58

Cô Tô

2

Tuần 14

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Cô Tô (tiếp)

Tuần 14

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

59

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 14

Phiếu học tập,

Lớp học

60,61

Hang Én

2

Tuần 15

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Hang Én (tiếp)

Tuần 15

Máy tính, phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

62

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 15

Phiếu học tập,

Lớp học

63

Ôn tập học kì 1

2

Tuần 15

Máy tính, phiếu học tập

Lớp học

64

Ôn tập học kì 1

Tuần 15

Máy tính, phiếu học tập

Lớp học

65

Kiểm tra học kì 1

2

Tuần 16

Đề KT

Lớp học

66

Kiểm tra học kì 1

Tuần 16

Đề KT

Lớp học

67

Cửu Long Giang ta ơi

1

Tuần 17

Máy tính, phiếu học tập

Lớp học

68,69

Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt

2

Tuần 17

Phiếu học tập,

Lớp học

Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt (tiếp)

Tuần 18

Phiếu học tập,

Lớp học

70

Thực hành: Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt

1

Tuần 18

Phiếu học tập,

Lớp học

71

Nói và nghe: Chia sẻ một trải nghiệm về nơi em sống hoặc từng đến

1

Tuần 18

Phiếu học tập,

72

Đọc mở rộng

1

Tuần 18

Phiếu học tập,

Lớp học

HỌC KÌ II

Tiết thứ

Bài học

Tên bài học

(1)

Số tiết

(2)

Thời điểm

(3)

Thiết bị dạy học

(4)

Địa điểm dạy học

(5)

73,74

BÀI 6. CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG

(13 tiết)

Thánh Gióng

2

Tuần 19

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Thánh Gióng (tiếp)

Tuần 19

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

75

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 19

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

76,77

Sơn Tinh, Thủy Tinh

2

Tuần 19

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Sơn Tinh, Thủy Tinh (tiếp)

Tuần 20

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

78

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 20

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

79,80

Ai ơi mồng 9 tháng 4

2

Tuần 20

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Ai ơi mồng 9 tháng 4 (tiếp)

Tuần 20

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

81,82

Viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện

2

Tuần 21

Lớp học

Đề bài, Phiếu học tập,

Lớp học

Viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện

Tuần 21

Đề bài, Phiếu học tập,

Lớp học

83,84

Thực hành: Viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện

2

Tuần 21

Phiếu học tập,

Lớp học

Thực hành: Viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện

Tuần 21

Phiếu học tập,

Lớp học

85

Nói và nghe: Kể lại một truyền thuyết

1

Tuần 22

Phiếu học tập,

Lớp học

86,87

BÀI 7. THẾ GIỚI CỔ TÍCH

(13 tiết)

ĐỌC MỞ RỘNG

(1 tiết)

Thạch Sanh

2

Tuần 22

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Thạch Sanh (tiếp)

Tuần 22

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

88

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 22

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

89,90

Cây khế

2

Tuần 23

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Cây khế (tiếp)

Tuần 23

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

91

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 23

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

92,93

Vua chích chòe

2

Tuần 23

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Vua chích chòe (tiếp)

Tuần 24

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

94,95

Viết bài văn kể lại một truyện cổ tích

2

Tuần 24

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Viết bài văn kể lại một truyện cổ tích

Tuần 24

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

96,97

Thực hành: Viết bài văn kể lại một truyện cổ tích

2

Tuần 24

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Thực hành: Viết bài văn kể lại một truyện cổ tích

Tuần 25

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

98

Nói và nghe: Kể lại một truyện cổ tích

1

Tuần 25

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

99

Đọc mở rộng

1

Tuần 25

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

100,101

BÀI 8.

KHÁC BIỆT VÀ GẦN GŨI

(13 tiết)

Xem người ta kìa!

2

Tuần 25

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Xem người ta kìa! (tiếp)

Tuần 26

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

102

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 26

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

103

Kiểm tra giữa học kì 2

2

Tuần 26

Đề KT

Lớp học

104

Kiểm tra giữa học kì 2

Tuần 26

Đề KT

Lớp học

105,106

Hai loại khác biệt

2

Tuần 27

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Hai loại khác biệt (tiếp)

Tuần 27

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

107

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 27

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

108,109

Bài tập làm văn

2

Tuần 27

Phiếu học tập

Lớp học

Bài tập làm văn (tiếp)

Tuần 28

Phiếu học tập

Lớp học

110,111

Viết bài văn trình bày ý kiến về một hiện tượng (vấn đề) mà em quan tâm

2

Tuần 28

Phiếu học tập

Lớp học

Viết bài văn trình bày ý kiến về một hiện tượng (vấn đề) mà em quan tâm (tiếp)

Tuần 28

Phiếu học tập

Lớp học

112,113

Thực hành: Viết bài văn trình bày ý kiến về một hiện tượng (vấn đề) mà em quan tâm

2

Tuần 28

Phiếu học tập

Lớp học

Thực hành: Viết bài văn trình bày ý kiến về một hiện tượng (vấn đề) mà em quan tâm (tiếp)

Tuần 28

Phiếu học tập

Lớp học

114

Nói và nghe: Trình bày ý kiến về một hiện tượng (vấn đề) đời sống

1

Tuần 29

Phiếu học tập

Lớp học

115,116,117

BÀI 9. TRÁI ĐẤT – NGÔI NHÀ CHUNG

(13 tiết)

ĐỌC MỞ RỘNG

(1 tiết)

Trái đất – cái nôi của sự sống

3

Tuần 29

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Trái đất – cái nôi của sự sống (tiếp)

Tuần 29

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

Trái đất – cái nôi của sự sống (tiếp)

Tuần 29

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

118

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 29

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

119,120

Các loài chung sống với nhau như thế nào?

2

Tuần 30

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

Các loài chung sống với nhau như thế nào? (tiếp)

Tuần 30

Máy tính, Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

121

Thực hành tiếng Việt

1

Tuần 30

Phiếu học tập, bảng phụ

Lớp học

122

Trái đất

1

Tuần 30

Máy tính, phiếu học tập,bảng phụ

Lớp học

123

Viết biên bản một cuộc họp, cuộc thảo luận

1

Tuần 30

Phiếu học tập

Lớp học

124

Thực hành: Viết biên bản cuộc họp, cuộc thảo luận

1

Tuần 31

Phiếu học tập

Lớp học

125

Tóm tắt bằng sơ đồ nội dung của một văn bản

1

Tuần 31

Phiếu học tập, bảng phu

Lớp học

126

Thực hành: Tóm tắt bằng sơ đồ nội dung của một văn bản

1

Tuần 31

Phiếu học tập, bảng phu

Lớp học

127

Nói và nghe: Thảo luận về giải pháp khắc phục nạn ô nhiễm môi trường

Tuần 31

Phiếu học tập, bảng phu

Lớp học

128

Đọc mở rộng

1

Tuần 31

Phiếu học tập, bảng phu

Lớp học

129,130,131

BÀI 10.

CUỐN SÁCH TÔI YÊU

(8 tiết)

ÔN TẬP VÀ KIỂM TRA HỌC KÌ II

( 4 tiết)

Thách thức đầu tiên: Mỗi ngày một cuốn sách

3

Tuần 32

Máy tính, phiếu học tập,

Lớp học

Thách thức đầu tiên: Mỗi ngày một cuốn sách

Tuần 32

Máy tính, phiếu học tập,

Lớp học

Thách thức đầu tiên: Mỗi ngày một cuốn sách

Tuần 32

Máy tính, phiếu học tập,

Lớp học

132,133

Ôn tập học kì 2

2

Tuần 32

Máy tính, phiếu học tập, bản phụ

Lớp học

Ôn tập học kì 2

Tuần 32

Máy tính, phiếu học tập, bản phụ

Lớp học

134,135

Kiểm tra học kì 2

2

Tuần 33

Đề KT

Lớp học

Kiểm tra học kì 2

Tuần 33

Đề KT

Lớp học

136

Thách thức đầu tiên: Mỗi ngày một cuốn sách

1

Tuần 34

Máy tính, phiếu học tập, bản phụ

Lớp học

137,138

Thách thức thứ hai: Sáng tạo cùng tác giả

2

Tuần 34

Lớp học

Máy tính, phiếu học tập, bản phụ

Thách thức thứ hai: Sáng tạo cùng tác giả

Tuần 34

Máy tính, phiếu học tập, bản phụ

Lớp học

139,140

Nói và nghe: Về đích – Ngày hội với sách

2

Tuần 35

Máy tính, phiếu học tập, bản phụ

Lớp học

Nói và nghe: Về đích – Ngày hội với sách

Tuần 35

Máy tính, phiếu học tập, bản phụ

Lớp học

3. Chuyên đề lựa chọn (đối với cấp trung học phổ thông)

STT

Chuyên đề

(1)

Số tiết

(2)

Thời điểm

(3)

Thiết bị dạy học

(4)

Địa điểm dạy học

(5)

1

2

(1)Tên bài học/chuyên đề được xây dựng từ nội dung/chủ đề (được lấy nguyên hoặc thiết kế lại phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường)theo chương trình, sách giáo khoa môn học/hoạt động giáo dục.

(2) Số tiết được sử dụng để thực hiện bài dạy/chuyên đề.

(3) Tuần thực hiện bài học/chuyên đề.

(4) Thiết bị dạy học được sử dụng để tổ chức dạy học.

(5) Địa điểm tổ chức hoạt động dạy học (lớp học, phòng học bộ môn, phòng đa năng, bãi tập, tại di sản, thực địa…).

II. Nhiệm vụ khác (nếu có):(Bồi dưỡng học sinh giỏi; Tổ chức hoạt động giáo dục…)

……………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………..

TỔ TRƯỞNG(Ký và ghi rõ họ tên)

… ngày….. tháng…. năm……

GIÁO VIÊN(Ký và ghi rõ họ tên)

Khung kế hoạch giáo dục của giáo viên năm học 2021 – 2022

Trường…………………

Khối, lớp 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

……………., ngày….. tháng ….. năm…..

KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊN NĂM HỌC 2021 – 2022 Bộ sách: Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục

TTMÔN HỌC/HĐGDLỚPSỐ TIẾT THEO KHUNG CỦA BỘSỐ TIẾT XÂY DỰNG THỰC HIỆNSỐ TIẾT DẠY TÍCH HỢPGHI CHÚKỳ 1Kỳ 2Kỳ 1Kỳ 2Số tiếtMôn tích hợpSố tiếtMôn tích hợp1234CộngXÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNGGIÁO VIÊN

Khung kế hoạch giáo dục môn Toán năm học 2021 – 2022

Trường…………………

Khối, lớp 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

……………., ngày….. tháng …. năm……

KẾ HOẠCH GIÁO DỤC MÔN TOÁN NĂM HỌC 2021 – 2022 Bộ sách: Cùng học để phát triển năng lực

TT Tên chủ đề/ Tên bài học/ tiết họcYêu cầu cần đạt Dự kiến hoạt động dạy học cơ bảnThời lượngNội dung tích hợp Ghi chúIChủ đề1Bài 12Bài 2XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNGGIÁO VIÊN

Mẫu kế hoạch giáo dục môn Tiếng Việt sách Kết nối tri thức với cuộc sống

Phòng GD&ĐT:………..

Trường…………………

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

……………., ngày….. tháng ….. năm……

KẾ HOẠCH GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNGMÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1 (BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG)CẢ NĂM 35 TUẦN = 420 TIẾT

…….

>>> Tải file Mẫu kế hoạch giáo dục năm học 2021 – 2022 để tham khảo chi tiết

Bài phát biểu khai giảng năm học mới của phụ huynh

Bài phát biểu của hội phụ huynh ngày khai giảng Tải về Bản in

Ngày khai trường là một ngày lễ đặc biệt đối với các em học sinh để bước vào năm học mới hăng say nhiều niềm vui. Để lễ khai giảng được diễn ra thành công tốt đẹp thì không thể thiếu được bài phát biểu của hội cha mẹ học sinh. Trong bài viết này TTTD.VN xin được gửi đến các bạn mẫu bài phát biểu của hội phụ huynh trong ngày khai giảng, mời các bạn cùng tham khảo.

Bài phát biểu trong lễ khai giảng của phụ huynh

  • 1. Lời chúc mừng năm học mới của phụ huynh
  • 2. Bài phát biểu khai giảng năm học mới của phụ huynh mầm non
  • 3. Bài phát biểu của đại diện Hội Cha mẹ học sinh ngày khai giảng
  • 4. Bài phát biểu cuả hội phụ huynh nhân ngày khai giảng năm học mới
  • 5. Bài phát biểu của Phụ huynh cấp mầm non trong lễ khai giảng năm học 2020-2021
  • 6. Mẫu bài phát biểu ngày khai giảng của hội phụ huynh

Một năm học mới lại chuẩn bị đến và công tác chuẩn bị cho lễ khai giảng năm học mới đang được các thầy cô giáo gấp rút triển khai. Tuy nhiên trước tình hình dịch bệnh Covid19 vẫn đang có những diễn biến phức tạp trên nhiều tỉnh thành cả nước, có thể năm nay sẽ có nhiều địa phương phải tính đến phương án khai giảng online. Các thầy cô có thể tham khảo đường link dưới đây của Hoatieu để tham khảo thêm một số ý tưởng tổ chức lễ khai giảng trực tuyến:

  • Hướng dẫn tổ chức Khai Giảng Online

Để buổi lễ khai giảng thành công tốt đẹp thì không thể thiếu được những bài phát biểu hay trong lễ khai giảng. Sau đây là tổng hợp các bài phát biểu của phụ huynh trong lễ khai giảng đã được Hoatieu tổng hợp, xin chia đến các bạn đọc.

1. Lời chúc mừng năm học mới của phụ huynh

1. Chúc mừng Ban giám hiệu cùng tập thể các thầy cô giáo trường nhân mùa khai giảng. Qua một năm con học tại đây, tôi thấy trường khiến cho học sinh yêu việc đến trường, làm cho phụ huynh cảm thấy được tôn trọng. Hình ảnh các thầy cô giáo đứng dưới nắng chào đón học sinh ngày đầu năm học đã làm biết bao phụ huynh rưng rưng cảm động. Chữ TÂM là điều tôi thực sự nhìn thấy ở trường. Chúc BGH nhà trường cùng tập thể các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và được học sinh yêu quý. Chúc các em học sinh nhiều sức khoẻ, đạt được nhiều thành công trong năm học tới này.

2. Nhân dịp bước vào năm học mới, kính chúc trường phát huy những thành tích đã đạt được, tiếp tục khẳng định triết lý, mục tiêu giáo dục của mình, vượt qua mọi khó khăn thử thách để trở thành địa chỉ tin cậy của các thế hệ học sinh và các bậc phụ huynh. Nhân dịp này cũng xin được kính chúc Ban lãnh đạo, các thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên nhà trường và toàn thể các con học sinh một năm học mới dồi dào sức khỏe, tràn đầy niềm vui và thành công rực rỡ.

3. Nhân năm học mới, chúc buổi lễ khai giảng của trường diễn ra vui vẻ, đầm ấm, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho các con; chúc cho trường sẽ ngày càng hoàn thiện mọi mặt để thực sự là nơi “ươm mầm tương lai”; chúc các thầy cô giáo mạnh khỏe, tràn đầy năng lượng để truyền lửa, truyền đam mê cho các con và chúc các con một năm học mới vui vẻ, chăm ngoan, học giỏi.

4. Nhân dịp khai giảng năm học mới 2020 – 2021. Chúc toàn thể các thầy cô giáo luôn mạnh khoẻ, kiên định vững vàng để gặt hái được nhiều thành công trong dạy và học. Như câu triết lý của nhà trường (Nơi ươm mầm tinh hoa). Chúc tập thể lớp gặt hái được nhiều thành công chúc cô giáo chủ nhiệm luôn mạnh khoẻ sáng suốt để soi đường dẫn lối cho các con!

5. Mùa Thu ngày khai trường! Xin chúc các thầy cô giáo và các con có một năm học thu được thật nhiều hoa thơm trái ngọt! Mong rằng Lễ khai giảng sẽ để lại ấn tượng khó phai trong trái tim và tâm hồn của các con!

2. Bài phát biểu khai giảng năm học mới của phụ huynh mầm non

Kính thưa quý vị đại biểu!

Kính thưa Ban Giám hiệu cùng các thầy cô giáo, các vị phụ huynh và các cháu học sinh yêu quý!

Lời đầu tiên cho phép tôi được đại diện cho các bậc phụ huynh xin được gửi tới lời kính chúc sức khỏe tới toàn thể quý vị đang có mặt trong ngày hôm nay.

Kính thưa quý vị!

Mỗi bậc cha mẹ chắc hẳn khó có thể giấu được cảm xúc vui mừng của mình khi thấy các con ngày càng khôn lớn. Trong thời gian cho cháu theo học ở trường, chúng tôi cảm thấy rất ủng hộ với con đường định hướng mà nhà trường đã đặt ra cho các con. Tại mái trường thân yêu này, các con không chỉ được học kiến thức mà còn được trang bị đầy đủ về các kỹ năng sống, cách cư xử với người lớn tuổi, với bạn bè. Và kết quả là cháu đã ngoan hơn rất nhiều.

Giờ đây con cái chúng tôi đã biết tự lo cho mình, biết quan tâm tới ông bà, cha mẹ, anh chị, biết giúp cha mẹ làm những việc nhỏ mà trước giờ tôi chưa từng thấy ở con. Sự trưởng thành này chính là nhờ vào tâm huyết dạy dỗ, rèn luyện từng ngày của các thầy cô. Hôm nay, tại đây cho phép tôi xin được đại diện các bậc phụ huynh xin gửi tới lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất tới những người cha, người mẹ thứ 2 của con mình.

Các con yêu quý!

Những năm tháng được học dưới mái nhà thân yêu này chắc hẳn các con đều có nhiều điều muốn nói. Hãy ghi vào lòng những cảm xúc ngày hôm nay để thấu hiểu về sự hy sinh thầm lặng, công lao dạy dỗ của các thầy cô, nghĩa sinh thành của cha mẹ để ngày mai sau đây các con lấy đó là điểm tựa, là động lực vững bước đường đời.

Bác rất mong các con sẽ luôn cảm thấy tự hào khi được là thành viên của đại gia đình chan chứa tình yêu thương này. Các con hãy nhớ rằng, thầy cô và che mẹ sẽ luôn đồng hành cũng con trong con đường chinh phục tri thức, thực hiện ước mơ của mình.

Kính thức các bậc phụ huynh!

Chắc hẳn các bậc phụ huynh cũng đang giống như tôi luôn đặt niềm tin tưởng và phối hợp chặt chẽ với nhà trường để các con thực sự có một nền tảng vững chắc cả về đức, trí, tài khi cho con theo học tại ngôi trường này.

Kính thưa các thầy cô, các quý phụ huynh và các cháu học sinh!

Một lần nữa cho phép tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô. Kính chúc các thầy cô sức khỏe dồi dào, hạnh phúc trên con đường sự nghiệp trồng người của mình. Chúc nhà trường ngày càng phát triển và đào tạo ra những mầm non tương lai của đất nước. Chúc các con có một năm học mới thật ý nghĩa và bổ ích!

Chúc các bậc phụ huynh dồi dào sức khỏe và thành công!

Xin chân thành cảm ơn.

Bài phát biểu của đại diện Hội Cha mẹ học sinh ngày khai giảng

3. Bài phát biểu của đại diện Hội Cha mẹ học sinh ngày khai giảng

Kính thưa các quý vị đại biểu,

Kính thưa Ban Giám hiệu và các thầy cô giáo,

Thưa các bậc phụ huynh và các cháu học sinh thân mến,

Trước hết cho phép tôi được thay mặt các bậc phụ huynh học sinh của trường được bày tỏ sự cảm ơn tới Ban Giám hiệu nhà trường, tới các thầy cô đã tổ chức một buổi lễ khai giảng để chào đón các em học sinh vào năm học mới thật trang trọng và đầm ấm. Xin cảm ơn Ban Giám hiệu đã cho phép tôi được thay mặt các bậc phụ huynh học sinh được có đôi lời phát biểu tại buổi lễ này.

Thưa quý vị, Lựa chọn một mái trường tốt để gửi gắm con em mình là một quyết định quan trọng và khó khăn. Sự lựa chọn của chúng tôi, các bậc phụ huynh dựa trên cơ sở tìm hiểu các thông tin, đánh giá năng lực của nhà trường. Và trường ……………………. đã thuyết phục chúng tôi về phương pháp giảng dạy và học tập tiên tiến, điều kiện vật chất được trang bị đầy đủ và quan trọng nhất đó là tri thức và lòng nhiệt tình của các thầy cô giáo. Chúng ta đã lựa chọn mái trường này và sự lựa chọn của chúng ta là sự lựa chọn đúng đắn. Tôi có suy nghĩ không phải nhà trường tuyển được hơn 140 em học sinh mà nhà trường còn tuyển được chúng tôi nữa, tổng cộng là gần 300 phụ huynh học sinh sẵn sàng phối hợp với nhà trường để việc học tập của các con đạt hiệu quả cao. Chúng tôi gửi gắm các con vào mái trường này, cũng là gửi gắm tất cả tình cảm, niềm tin vào các thầy cô và sự tin tưởng vào nỗ lực học tập của các con.

Nhân dịp đầu năm học mới tôi xin thay mặt các bậc phụ huynh học sinh của trường: Chúc các cháu học sinh một năm học mới đầy hứng thú, tiếp thu được nhiều kiến thức, phát triển khỏe mạnh về thể chất và tinh thần. Chúc các quý vị đại biểu, Ban Giám hiệu và các thầy cô sức khỏe, luôn giữ được lòng say mê với nghề, thành công và hạnh phúc. Xin cảm ơn!

Tham khảo thêm:

  • Bài phát biểu khai giảng năm học mới của học sinh

4. Bài phát biểu cuả hội phụ huynh nhân ngày khai giảng năm học mới

Bài phát biểu của phụ huynh nhân ngày khai giảng năm học mới.Kính thưa Các vị đại biểu! Kính thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh yêu quý!

Hôm nay, tôi rất vinh dự được thay mặt ban đại diện cha mẹ học sinh trường Tiểu học Liên Châu tới dự lễ khai giảng năm học 2020-2021. Lời đầu tiên xin cho phép tôi gửi tới quý vị đại biểu, các thầy cô giáo, các em học sinh lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt, chúc năm học của chúng ta thành công tốt đẹp.

Kính thưa Các vị đại biểu! Kính thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh yêu quý!

Là người Việt Nam, ai cũng nhớ nằm lòng truyền thống tôn sư trọng đạo mà cha ông ta đã truyền dạy từ bao đời nay:

Muốn sang thì bắc cầu Kiều

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy

Chúng tôi là những người đã sinh các em, nuôi dưỡng các em nhưng Thầy cô là người cho các em kiến thức, chắp cánh cho ước mơ của các em bay cao, bay xa, cho các em hành trang tri thức vào đời và trở thành người hữu ích cho xã hội. Sau này khi các em lớn lên, đôi chân dù có đi xa đến đâu vẫn không thể bỏ quên những ký ức về lòng biết ơn đối với những người thầy, người cô đã tận tình dạy bảo các em!

Kính thưa các vị đại biểu!

Đến dự lễ khai giảng năm học 2020-2021 hôm nay tôi hết sức phấn khởi và vui mừng trước những thành tích mà thầy và trò nhà trường đã đạt được trong năm học vừa qua!

Tôi xin thay mặt cho tất cả các bậc phụ huynh trong nhà trường xin cám ơn các thầy cô đã hết lòng dạy dỗ con em chúng tôi. Xin cảm ơn những giọt mồ hôi các thầy cô đổ xuống đã ướp mặn tâm hồn các em, dạy các em lớn lên có đủ Tri thức, đạo đức và đặc biệt một chữ Tâm để bước vào đời, mở cho các em cánh cửa bước vào tương lai!

Chúng tôi cũng nguyện hết sức mình kết hợp với nhà trường để cùng giáo dục các em!

Cuối cùng, tôi xin kính chúc các vị đại biểu, các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh sức khỏe! thành công trong cuộc sống! Xin cảm ơn!

Tham khảo thêm

  • Bài phát biểu khai giảng năm học mới của hiệu trưởng

5. Bài phát biểu của Phụ huynh cấp mầm non trong lễ khai giảng năm học 2020-2021

Kính thưa các vị đại biểu khách, kính thưa các bậc phụ huynh, kính thưa các cô giáo và toàn thể các cháu yêu quý!

Để cùng hòa chung với niềm vui hân hoan đón chào một năm học mới, năm học 2020-2021 đã bắt đầu. Hôm nay trường mầm non ……… long trọng tổ chức “Ngày hội đến trường của bé”.

Thay mặt cho toàn thể các bậc phụ huynh trong toàn trường, lời đầu tiên cho phép tôi xin gửi đến các quý vị đại biểu khách quý, các bậc phụ huynh lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và lời chào trân trọng nhất. Chúc các đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên và các cháu trong nhà trường có một sức khỏe tốt, để bước vào năm học mới có thật nhiều thành tích trong giảng dạy và học tập (Vỗ tay).

Kính thưa các vị đại biểu, kính thưa các đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường, kính thưa các bậc phụ huynh và các cháu thân mến.

Nhìn lại những chặng đường mà tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên và các cháu của trường mầm non ………….. đã vượt qua và đã đạt được những thành tích đáng kể trong những năm qua. Hội phụ huynh chúng tôi vô cùng cảm ơn nhà trường, đặc biệt là các đồng chí cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của trường đã rất nhiệt tình, đã không quản ngại khó khăn vất vả, mặc cho chế độ đãi ngộ vẫn còn thấp so với mức thu nhập bình quân của toàn xã hội. Nhưng với lòng nhiệt tình, yêu nghề và mến các cháu, đã coi con cháu của chúng tôi như con em ruột thịt của mình, hàng ngày các cô giáo đã tận tụy chăm sóc và dạy dỗ các cháu trở thành những con ngoan trò giỏi của gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

Nhân dịp tổ chức lễ khai giảng năm học 2020-2021 này, thay mặt cho toàn thể các bậc phụ huynh trong toàn trường, một lần nữa chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhà trường, đặc biệt là các đồng chí cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đã không quản ngại khó khăn vất vả để chăm sóc và dạy dỗ cho con em chúng tôi, trở thành những con ngoan trò giỏi của gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

Chúc các vị đại biểu khách, các bậc phụ huynh mạnh khỏe, hạnh phúc và hãy dành cho nhà trường, cho các cháu những tình cảm và sự quan tâm tốt nhất.

Chúc các đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên và các cháu trong nhà trường sang năm học mới này có thêm nhiều niềm vui mới, có sức khỏe tốt và có được nhiều thành tích cao trong các cuộc thi giáo viên giỏi, nhân viên giỏi và học sinh giỏi các cấp.

Thay măt cho hội phụ huynh trong toàn trường, chúng tôi xin gửi đến các đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên và các cháu nhân dịp ngày khai giảng năm học mới, những bông hoa tươi thắm nhất (Tặng hoa cho nhà trường)

Một lần nữa thay mặt cho hội phụ huynh toàn trường, xin kính chúc các vị đại biểu, các cô giáo và các cháu luôn mạnh khỏe và sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tích mới trong năm học 2020-2021 này.

Xin trân trọng cảm ơn!

6. Mẫu bài phát biểu ngày khai giảng của hội phụ huynh

Kính thưa Các vị đại biểu! Kính thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh yêu quý!

Hôm nay, tôi rất vinh dự được thay mặt ban đại diện cha mẹ học sinh trường …………. tới dự lễ khai giảng năm học …………..

Lời đầu tiên xin cho phép tôi gửi tới quý vị đại biểu, các thầy cô giáo, các em học sinh lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt, chúc năm học của chúng ta thành công tốt đẹp.

Kính thưa Các vị đại biểu! Kính thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh yêu quý!

Là người Việt Nam, ai cũng nhớ nằm lòng truyền thống tôn sư trọng đạo mà cha ông ta đã truyền dạy từ bao đời nay:

Muốn sang thì bắc cầu Kiều

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy

Chúng tôi là những người đã sinh các em, nuôi dưỡng các em nhưng Thầy cô là người cho các em kiến thức, chắp cánh cho ước mơ của các em bay cao, bay xa, cho các em hành trang tri thức vào đời và trở thành người hữu ích cho xã hội. Sau này khi các em lớn lên, đôi chân dù có đi xa đến đâu vẫn không thể bỏ quên những ký ức về lòng biết ơn đối với những người thầy, người cô đã tận tình dạy bảo các em!

Kính thưa các vị đại biểu!

Đến dự lễ khai giảng năm học ……….. hôm nay tôi hết sức phấn khởi và vui mừng trước những thành tích mà thầy và trò nhà trường đã đạt được trong năm học vừa qua!

Tôi xin thay mặt cho tất cả các bậc phụ huynh trong nhà trường xin cám ơn các thầy cô đã hết lòng dạy dỗ con em chúng tôi. Xin cảm ơn những giọt mồ hôi các thầy cô đổ xuống đã ướp mặn tâm hồn các em, dạy các em lớn lên có đủ Tri thức, đạo đức và đặc biệt một chữ Tâm để bước vào đời, mở cho các em cánh cửa bước vào tương lai!

Chúng tôi cũng nguyện hết sức mình kết hợp với nhà trường để cùng giáo dục các em!

Cuối cùng, tôi xin kính chúc các vị đại biểu, các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh sức khỏe! thành công trong cuộc sống! Xin cảm ơn!

Trên đây là bài phát biểu của hội cha mẹ học sinh trong lễ khai giảng, ngoài ra các bạn còn có thể tham khảo thêm mẫu bài phát biểu khai giảng của giáo viên, bài phát biểu hay trong đám cưới, bài phát biểu trong đại hội chi đoàn… Chúc các bạn thành công!

Mẫu Điều Lệ Công Ty TNHH Mới Nhất Năm 2022

Mục lục bài viết

Tương tự như vậy, với công ty TNHH, Điều lệ công ty được coi như là văn bản để giám sát mọi hoạt động của công ty, thể hiện hình thái, tô chức mà công ty đang có. Luật Hoàng Phi xin gửi đến cho quý khách hàng nội dung cũng như quy định về điều lệ thành lập công ty TNHH mới nhất.

điều lệ thành lập công ty TNHH

Điều lệ công ty TNHH là gì ?

Điều lệ công ty TNHH là văn bản do chủ sở hữu hoặc do thỏa thuận giữa những người chủ sở hữu công ty với nhau, là sự cam kết, ràng buộc các thành viên trong một luật lệ chung, được soạn thảo căn cứ trên những khuôn mẫu chung của pháp luật, để ấn định các nguyên tắc về cách thức thành lập, quản lý, hoạt động và giải thể của doanh nghiệp.

Đặc điểm của Điều lệ công ty TNHH

– Điều lệ công ty TNHH là căn cứ pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất khi có tranh chấp xảy ra, được đưa ra làm cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và các vấn đề phát sinh của doanh nghiệp.

– Điều lệ công ty TNHH do doanh nghiệp tự lập nên, có nội dung căn cứ theo các quy định về pháp luật doanh nghiệp và không được trái với các quy định pháp luật.

– Điều lệ TNHH là bản cam kết của chủ sở hữu hoặc các thành viên công ty về việc thành lập công ty, quản lý và hoạt động của doanh nghiệp.

– Việc xác lập, sửa đổi, bổ sung và hủy bỏ Điều lệ của công ty phải thực hiện tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

– Điều lệ công ty bao gồm Điều lệ khi đăng ký doanh nghiệp và Điều lệ được sửa đổi, bổ sung trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Nội dung của điều lệ công ty TNHH

Căn cứ theo quy định tại Điều 24 Luật doanh nghiệp 2020, Điều lệ công ty phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

– Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; tên, địa chỉ chi nhánh và văn phòng đại diện (nếu có);

– Ngành, nghề kinh doanh;

– Vốn điều lệ; tổng số cổ phần, loại cổ phần và mệnh giá từng loại cổ phần đối với công ty cổ phần;

– Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch của thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của chủ sở hữu công ty, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần. Phần vốn góp và giá trị vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh. Số cổ phần, loại cổ phần, mệnh giá từng loại cổ phần của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần;

– Quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; của cổ đông đối với công ty cổ phần;

– Cơ cấu tổ chức quản lý;

– Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; phân chia quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trong trường hợp công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật;

– Thể thức thông qua quyết định của công ty; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ;

– Căn cứ và phương pháp xác định tiền lương, thù lao, thưởng của người quản lý và Kiểm soát viên;

– Trường hợp thành viên, cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ phần đối với công ty cổ phần;

– Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh;

– Trường hợp giải thể, trình tự giải thể và thủ tục thanh lý tài sản công ty;

– Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty.

điều lệ thành lập công ty TNHH

Thẩm quyền sửa đổi điều lệ công ty TNHH

Điều lệ công ty TNHH có thể được sửa đổi, bổ sung nội dung trong điều lệ. Vậy, thẩm quyền sửa đổi điều lệ công ty được pháp luật quy định như thế nào?

Điều 55 – Luật Doanh nghiệp năm 2020 có quy định về Hội đồng thành viên có quyền sửa đổi/bổ sung điều lệ công ty. Cụ thể như sau:

“1. Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, bao gồm tất cả thành viên công ty là cá nhân và người đại diện theo ủy quyền của thành viên công ty là tổ chức. Điều lệ công ty quy định kỳ họp Hội đồng thành viên, nhưng ít nhất mỗi năm phải họp một lần.

2. Hội đồng thành viên có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;

b) Quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương thức huy động thêm vốn; quyết định phát hành trái phiếu;

c) Quyết định dự án đầu tư phát triển của công ty; giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ;

d) Thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản và hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy định có giá trị từ 50% tổng giá trị tài sản trở lên được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;

đ) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Kiểm soát viên và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty;

e) Quyết định mức lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty;

g) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm, phương án sử dụng và phân chia lợi nhuận hoặc phương án xử lý lỗ của công ty;

h) Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty;

i) Quyết định thành lập công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện;

k) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;

l) Quyết định tổ chức lại công ty;

m) Quyết định giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty;

n) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.”

Điều lệ công ty TNHH mới nhất được cung cấp bởi Luật Hoàng Phi

Vì được coi như một bản “Hiến Pháp” của doanh nghiệp, nên Điều lệ công ty TNHH vô cùng quan trọng cả về mặt pháp lý lẫn áp dụng vào thực tiễn quá trình thành lập công ty, hoạt động của công ty. Và không phải khách hàng nào cũng có thể tự soạn thảo được một bản Điều lệ khoa học, đầy đủ và đúng quy định của pháp luật.

Hiểu được vấn đề đó, Luật Hoàng Phi cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng soạn hồ sơ thành lập công ty TNHH, soạn thảo Điều lệ cho khách hàng theo đúng pháp luật và mong muốn của quý khách :

– Hướng dẫn khách hàng soạn thảo hoặc trực tiếp soạn thảo Điều lệ công ty TNHH cho quý khách hàng có yêu cầu;

– Giải thích, tư vấn các vấn đề có trong Điều lệ mà khách hàng mong muốn tìm hiểu;

– Sửa đổi, bổ sung Điều lệ trong quá trình công ty hoạt động có vấn đề phát sinh;

– Soạn thảo thêm những văn bản cần thiết để phục vụ quý khách hàng thành lập công ty TNHH;

Quý khách hàng có thể tham khảo 1 số dịch vụ sau đây:

+ Thành lập công ty tnhh 2 thành viên

+ Điều lệ Công ty TNHH 1 thành viên

Khách hàng muốn được tư vấn hay yêu cầu sử dụng dịch vụ của chúng tôi, vui lòng liên hệ :

– Yêu cầu dịch vụ: 0981.393.686 – 0981.393.868

– Yêu cầu dịch vụ ngoài giờ hành chính: 0981.378.999

Mẫu điều lệ công ty TNHH mới nhất 2022

Mẫu 1:

Download (DOC, 177KB)

Mẫu 2:

Download (DOC, 188KB)

Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái. Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi. Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Không có kính, rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim. 1968 Phạm Tiến Duật Lời bình:

Trong chùm thơ bốn bài của Phạm Tiến Duật đoạt giải nhất cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ năm 1969, có ba bài viết về đường Trường Sơn, cụ thể là những chiến sĩ lái xe, thanh niên xung phong trên con đường huyền thoại ấy. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một trong ba bài ấy. Khi in lại bài thơ này, có nhà biên tập có ý muốn bỏ đi ba chữ đầu tiên, chỉ để lại “Tiểu đội xe không kính”, với lý luận rằng “ba chữ bài thơ về là thừa ra, vì ai đọc lên chẳng biết đây là bài thơ”. Như vậy là chưa hiểu được ý của tác giả. Ở bài thơ này, để nói sự lạc quan của lính vận tải trên đường Trường Sơn, tác giả nhìn thực tế bằng con mắt chiến sĩ lái xe: Mọi gian khổ, khó khăn chỉ là chuyện vặt, xe không có kính có cái hay, cái được mà xe có kính không có! Hay nói một cách khác, tác giả viết bài thơ này để ngợi ca tiểu đội xe không kính mà nội dung sự ngợi ca đó đã báo trước trong ba chữ bài thơ về nằm ở đầu đề. Để hiểu được hoàn cảnh ra đời của bài thơ này, chúng ta cùng nhắc lại một thực tế: Trong 16 năm, từ 1959 đến 1975, qua đường Trường Sơn chúng ta đã chở vào chiến trường miền Nam hơn một triệu tấn hàng và vũ khí nhưng cũng bị máy bay Mỹ đốt cháy và phá hủy mất 90 nghìn tấn hàng và 14.500 xe, máy. Chính Phạm Tiến Duật từng viết: “Mỗi trọng điểm là một nghĩa địa ô tô. Xác xe cháy ngổn ngang lưng đèo, đỉnh núi”. Biết bao chiếc xe đã được thu gom, chắp nhặt từ các nghĩa địa ô tô đó. Chỉ cần có bánh xe, máy nổ là coi như còn xe. Và tất nhiên, người ta phải chắp nhặt những bộ phận sót lại ở những chiếc xe khác nhau để làm nên một chiếc xe có thể chạy được. Đã có biết bao tiểu đội xe vận tải có những chiếc xe như thế chạy, chở hàng đã hoạt động trên đường Trường Sơn, thế thì mất kính có thấm tháp gì đâu ngoài việc tạo sự phóng túng cho lính lái:

Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng.

Thì ra chiến sĩ lái xe không hề bận tâm về việc xe mình không có kính, ngược lại, chính xe không có kính càng tạo cho anh cái thế ung dung ngồi trong buồng lái mà không có gì ngăn cách với thiên nhiên:

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái.

Sao trời và cánh chimlà biểu tượng của ban đêm và ban ngày. Xe chạy không phân biệt ngày đêm, nhưng thực tế những năm tháng ấy, xe chạy đêm là chính để tránh máy bay Mỹ. Lòng yêu những con đường của người lái xe được tác giả mô tả bằng cảm giác khi xe chạy nhanh: “con đường chạy thẳng vào tim”, chạy thẳng được vì không có kính ngăn lại!

Thế thì không có kính không đem lại những khó khăn gì hay sao? Có chứ, nhưng khó khăn xoàng không mảy may ảnh hưởng đến tinh thần người lính:

Không có kính, ừ thì có bụi… Không có kính, ừ thì ướt áo…

Điệp ngữ ừ thì thể hiện sự tất yếu đã biết, là một lẽ tất nhiên đã lường trước. Bụi chỉ làm trắng tóc lính trẻ, chỉ gây chuyện vui, chuyện buồn cười:

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Còn mưa ướt áo, ừ thì chuyện xoàng:

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.

Chúng ta lưu ý rằng, cái gió lùa hong khô áo đó chính do xe không có kính mang lại!

Qua hai khổ thơ coi chuyện khó khăn do việc xe không có kính mang lại là chuyện vặt, tác giả trở lại khai thác cái thuận lợi, cái được sinh ra từ xe không có kính, đó là việc thể hiện tình đồng đội, đồng chí, tình những người lính lái xe trên tuyến lửa:

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Động tác bắt tay nhau vồn vã này không thể làm được khi xe có kính! Phạm Tiến Duật là nhà thơ tiêu biểu thế hệ nhà thơ thời chiến tranh chống Mỹ, những người luôn khai thác ở lính tinh thần lạc quan, coi thường gian khổ, chắt lọc ngọt ngào từ cay đắng, tìm kiếm thuận lợi từ khó khăn. Bên cạnh đó, ý thức trách nhiệm của thế hệ nhà thơ này cũng luôn thường trực: Tất cả vì công cuộc giải phóng miền Nam. Đọc khổ cuối bài thơ này, chúng ta không chỉ biết được rằng tiểu đội xe không kính chỉ là một ví dụ, còn bao chiếc xe nữa thiếu nhiều thứ khác, mặc dù vũ khí và phương tiện là quan trọng, nhưng con người mới quyết định:

Không có kính rồi không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Trong khổ thơ này có một chữ mà tác giả và bạn đọc đều chưa ưng ý, đó là chữ xước, bởi từ đó quá nhẹ, nên dùng cho những chiếc xe con sang trọng bị va quệt nhẹ tróc sơn, hơn là dùng cho những chiếc xe tải đã đi qua bom đạn mà có khi thùng xe chỉ còn lại vài thanh xơ tướp hoặc gẫy gập, cháy sém. Đã có lần chính tác giả muốn sửa lại từ này, nhưng lại thôi vì nghĩ nó đã nhập tâm vào bạn đọc rồi.

Nói về ngôn ngữ của bài thơ này, nhà thơ Phạm Tiến Duật tâm sự: “Tôi không tự cho tôi cái quyền quy định phạm vi ngôn ngữ cho từng bài thơ. Mỗi bài thơ có một văn hóa riêng, ngôn ngữ riêng”. Và theo tôi, ngôn ngữ trong bài thơ này là ngôn ngữ của lính, chính xác hơn là ngôn ngữ của cánh lính lái xe rất phù hợp với nội dung coi thường gian khổ, hy sinh… trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi thứ và cái chết luôn cận kề khi thực thi nhiệm vụ của mình.

Vương Trọng

Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn Đồng Nai 2021

Cập nhật Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn văn tỉnh Đồng Nai năm học 2021-2022 nhanh nhất cùng đáp án chi tiết. Mời các bạn xem ngay dưới đây.

[HOT]
  • Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Anh Đồng Nai
  • Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn toán Đồng Nai

Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn văn Đồng Nai năm 2021

I. Đọc hiểu (3 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Em sinh ra trong sự nâng niu, đón chờ của những người thân và nhiều hơn thế nữa. Tiếng khóc chào đời của em đã thắp thêm niềm hy vọng, niềm tin chiến thắng đại dịch cho những chiến sĩ áo trắng nơi đây. Dù cho ngoài kia, cả thế giới đang chao đảo vì cơn bão tử thần Covid-19, thì em ơi, cứ ngủ thật ngon lành bởi trong này bình yên lắm.Em được chở che trong vòng tay ấm êm của những con người thầm lặng. Đó là những bác sĩ không quản ngày đêm hy sinh bản thân mình, hết lòng vì người bệnh. Tấm chắn giọt bắn lúc nào cũng đầy hơi nước vì không có cơ hội được bỏ ra, lưng áo ướt đẫm mồ hôi cho dù là đang ngữa những ngày đông tháng giá. Đó là những người tự nguyện ở luôn trong bệnh viện, cả cái Tết đoàn viên cũng chẳng về nhà. Đó là cô y tá sẵn sàng gửi con nhỏ mới lên ba cho ông bà chăm sóc, và từng đêm, khi em quấy khóc, cô lại bế bồng và hát ru em câu hát “À ơi, con cò bay lả bay la…”

[…]Thế giới có những anh hùng thầm lặng, sẵn sàng cho đi mà không đòi hỏi bất cứ thứ gì. Nơi đây đã cho chị biết hạnh phúc không phải chỉ là được ăn ngon, mặc đẹp, được thoả sức vui chơi mà là được sống trong niềm tin về tình yêu thương giữa con người.

(Trích Thư gửi em bé có mẹ nhiễm Covid-19 giành giải nhất Viết thư UPU, VnExpress, 11/5/2021)

Câu 1 (0.5 điểm). Từ cơn bão trong đoạn trích được sử dụng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển?

Câu 2 (05. điểm). Theo tác giả, tiếng khóc chào đời của em mang lại điều gì cho những chiến sĩ áo trắng?

Câu 3 (1.0 điểm). Xác định và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong phần in đậm

Câu 4(1.0 điểm) . Em có đồng tình với suy nghĩ “hạnh phúc không phải chỉ là được ăn ngon, mặc đẹp, được thoả sức vui chơi mà là được sống trong niềm tin về tình yêu thương giữa con người?” Vì sao?

II. Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1. (2.0 điểm). Từ nội dung đoạn tích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bàn về sức mạnh của tình yêu thương giữa con người trong cuộc chiến chóng đại dịch Covid 19.

Câu 2

(5.0 điểm). Cảm nhận của em về nhân vật bé Thu qua hai đoạn trích sau:

[1]… Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về con bé càng đẩy ra. Anh mong được nghe một tiếng “ba” của con bé, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi. Nghe mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại:

– Thì má cứ kêu đi.

Mẹ nó nổi giận quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng:

– Vô ăn cơm!

Anh Sáu vẫn ngồi im,giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm”. Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra:

– Cơm chín rồi!

Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và bảo:

– Con kêu rồi mà người ta không nghe.”

[2] – Thôi ! Ba đi nghe con ! – Anh sáu khe khẽ nói. Chúng tôi, mọi người – kể cá anh, đêu tướng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đển lúc ẩy, tinh cha con như bỗng nối dậy trong người nó, trong ¡UC không ai ngờ đến thi nó bỗng kêu thét lên:

– Ba…a…a… ba!

Tiếng kêu của nó như tiêng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lẩy cố ba nó. […] Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:

– Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con

Ba nó bế nó lên. Nó hon ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả viết thẹo dài bên má của ba nó nữa

( Trích Chiếc lược ngà, Nguyên Quang Sáng, SGK Ngữ văn 9, tập 1)

Đáp án đề thi vào lớp 10 môn văn Đồng Nai năm 2021

Câu 1(0.5 điểm). Từ cơn bão trong đoạn trích được sử dụng theo nghĩa chuyển.

Câu 2 (05. điểm). Theo tác giả, tiếng khóc chào đời của em mang lại niềm hy vọng, niềm tin chiến thắng đại dịch cho những chiến sĩ áo trắng nơi đây.

Câu 3 (1.0 điểm). Biệt pháp điệp cấu trúc: “Đó là”.

Tác dụng: nhấn mạnh hơn về những gì mà các bác sĩ ở tuyến đầu chống dịch nơi đây vẫn đang kiên cường đấu tranh , những hy sinh thầm lặng.

Câu 4(1.0 điểm) . Trình bày quan điểm của bản thân em, lý giải hợp lý.

Gọi ý: Đồng ý. Lý giải:

Hạnh phúc không chỉ là tận hưởng những nhu cầu mang tính chất cá nhân mà hạnh phúc chính là được sống trong tình yêu thương giữa con người với con người, được yêu thương và trao đi yêu thương. Như vậy cuộc sống mới thực sự có ý nghĩa.

II. Làm văn

Câu 1.

1. Mở đoạn Giới thiệu về đề tài cần nghị luận: Sức mạnh của tình yêu thương giữa con người trong cuộc chiến chống đại dịch Covid 19 2.

Thân đoạn

* Giải thích: Tình yêu thương là sự quan tâm chăm sóc, che chở, lo lắng cho nhau giữa con người với con người.

– > Sức mạnh của tình yêu thương giữa con người trong cuộc chiến chống đại dịch Covid 19 giúp đem lại cuộc sống hòa bình, tốt đẹp. Mỗi người biết cách nhìn cuộc sống một cách tích cực hơn. Chúng ta có thể nhìn thấy truyền thống dân tộc ấy được phát huy trong tình hình chống giặc” COVID-19.

* Biểu hiện:

– Tình yêu thương được xuất phát từ trái tim, luôn yêu thương, quan tâm người khác. – Biết giúp đỡ, sẵn sàng chia sẻ

– Biết hy sinh, tha thứ cho người khác.

– Dẫn chứng, chứng minh hành động cụ thể.

+ Dịch bệnh COVID-19 đã càn quét, gây ảnh hưởng về Sức Khỏe, kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Là một nước nằm trong vùng ảnh hưởng của dịch bệnh, Việt Nam đã có những cách xử lý tuyệt vời, làm thế giới thán phục. Có thể nói, chính nhờ sức mạnh của tình yêu thương đã giúp đất nước ta bước đầu chiến thắng trên mặt trận chống Tình cảm gia đình, thầy trò, hàng xóm láng giềng, chung tay góp từ thiện ủng hộ…

+ Ngay từ lúc dịch bệnh bùng phát, giữa bối cảnh nhiều quốc gia hoang mang lo lắng, chính phủ nước ta đã có động thái quyết tâm, thể hiện trách nhiệm bảo vệ, giúp đỡ công dân, “Việt Nam quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau, trong cuộc chiến chống dịch bệnh COVID-19”.

+ Các hoạt động thiện nguyện, “lá lành đùm lá rách”, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn.

+ Sự hi sinh của các bác sĩ tuyến đấu chống dịch COVID-19.

+ Học sinh, sinh viên các trường đại học phát khẩu trang, nước rửa tay cho người dân.

+ Phong trào giải cứu dưa hấu, giải cứu tôm hùm,… khắp các tỉnh thành.

* Ý nghĩa:

– Mang lại hạnh phúc cho nhân loại.

– Tình cảm giữa con người với con người ngày một bền chặt hơn.

– Xây dựng được một xã hội văn minh, giàu tình người.

– Phát huy sức mạnh tình yêu thương: Việt Nam đã vượt qua tình trạng khó khăn do COVID 19 gây ra.

+ Cơ bản đã kiểm soát được dịch bệnh…

* Phản đề: Những người sống vô cảm, không biết yêu thương con người, đối xử tệ bạc với nhau.

* Liên hệ, rút ra bài học: Lòng yêu thương rất quan trọng, cần yêu thương con người nhiều hơn.

Câu 2.

Dàn ý tham khảo

1. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Quang Sáng (những nét cơ bản về con người, cuộc đời, đặc điểm sáng tác,…) – Giới thiệu khái quát về truyện ngắn “Chiếc Lược Ngà” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật,…)

– Giới thiệu khái quát về nhân vật bé Thu.

2. Thân bài

a. Bé Thu trước khi chịu nhận ông Sáu là ba (ĐOẠN 1)

– Thu là một đứa bé giàu lòng yêu thương cha và luôn hiện hữu khao khát đến ngày được gặp cha.

– Ngày gặp cha, Thu có một thái độ rất khác thường, trước sự ngỡ ngàng của mọi người.

+ Trong ba ngày ở nhà, ông Sáu luôn tìm cách bù đắp cho con thì bé Thu:

  • Ông Sáu “càng vỗ về con bé càng đẩy ra
  • Nhất quyết không chịu gọi ông Sáu một tiếng “ba”
  • Nói trống không với ông Sáu
  • Trong những tình huống cấp bách như phải chắt nước của một nồi cơm to thì cô bé vẫn cố loay hoay, tự tìm cách làm chứ nhất định không chịu nhờ tới sự giúp đỡ của ông Sáu,
  • Ông Sáu gắp trứng cá vào chén cho bé Thu thì cô bé “liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra”, làm cho cơm văng hết cả ra mâm.
  • Khi bị ông Sáu đánh, bé Thu không phản ứng gì mà bỏ về nhà bà ngoại.

->Bé Thu là một cô bé rất ngang ngạnh, bướng bỉnh nhưng sự bướng bỉnh ấy của cô bé không hề đáng trách. Bởi Thu không nhận ba không phải vì không yêu ba mà bởi trong suốt những năm tháng chiến tranh, có chỉ nhìn ba qua tấm ảnh để rồi đến ngày gặp gỡ, vết thẹo trên mặt của ông Sáu khiến cho ông khác lạ so với trong ảnh, điều đó khiến bé Thu không nhận ba.

b, Bé Thu khi nhận ông Sáu là ba (ĐOẠN 2)

– Khi bé Thu được bà ngoại kể cho câu chuyện về vết thẹo trên gương mặt của ba, bé Thu đã hiểu và thay đổi thái độ của mình.

+ Khuôn mặt bé Thu “sầm lại buồn rầu” và “nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”.

+ Khi cô bé bắt gặp ánh mắt buồn rầu của ông Sáu thì “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao” + Cất tiếng gọi ba – một tiếng kêu đến xé lòng.

+ Chạy lại ôm ba thật chặt, hôn ba và hôn lên cả vết thẹo.

+ Muốn ba đừng đi nữa, ở nhà với mình.

+ Cô bé chia tay ba với hi vọng ba sẽ tặng cho mình một chiếc lược ngà, để cô luôn cảm thấy ấm áp như có ba luôn bên mình.

-> Trong khoảnh khắc chia li, mọi khoảng cách đã bị xóa bỏ, chỉ còn lại ở đó tình cảm sâu đậm mà bé Thu dành cho ba.

-> Hai đoạn văn tái hiện lại hại khoảnh khắc và tình huống bé Thu dành cho cha của mình. Tác giả đã thành công trong nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật trẻ em. Từ đó cho thấy Thu là cô bé cá tính, mạnh mẽ, yêu cha tha thiết. Chính sự kiên định, quyết liệt của bé Thu đã làm nên cá tính cứng cỏi, ngoan cường của cô giáo liên giải phóng về sau.

3. Kết bài

Khái quát những đặc điểm cơ bản của nhân vật bé Thu, nghệ thuật xây dựng nhân vật và nêu cảm nghĩ của bản thân.

Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 của tỉnh sẽ diễn ra vào ngày 05/6/2021, vì vậy đề thi vào lớp 10 môn văn tỉnh Đồng Nai 2021 chính thức sẽ được cập nhật ngay lập tức khi kết thúc thời gian thi.

Ngoài ra, Doctailieu mời các em tham khảo chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 Đồng Nai cùng điểm chuẩn tuyển sinh vào lớp 10 Đồng Nai qua các năm để đưa ra các lựa chọn nguyện vọng thật đúng đắn.

Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn tỉnh Đồng Nai các năm trước

Đề thi văn lớp 10 Đồng Nai 2020

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu:

(1) Khi tôi lên 8 hay 9 tuổi gì đó, tôi nhớ thỉnh thoảng mẹ tôi vẫn nướng bánh mì cháy khét. Một tối nọ, mẹ tôi về nhà sau một ngày làm việc dài và bà làm bữa tốt cho cha con tôi. Bà dọn ra bàn vài lát bánh mì và đợi xem có ai nhận ra điều bất thường của chúng và lên tiếng hay không. Nhưng cha tôi chỉ ăn miếng bánh của ông và hỏi tôi về bài tập cũng như những việc ở trường học như mọi hôm. Tôi không còn nhớ tôi đã nói gì với ông hôm đó, nhưng tôi nhớ đã nghe mẹ tôi xin lỗi ông vì đã làm cháy bánh mì. Và tôi không bao giờ quên được những gì cha tôi nói với mẹ tôi :”Em à, anh thích bánh mì cháy mà”.

(2) Đêm đó, tôi đến bên chúc cha tôi ngủ ngon và hỏi có phải thực sự ông thích bánh mì cháy. Cha tôi khoác tay qua vai tôi và nói:”Mẹ Con đã làm việc rất vất vả cả ngày và mẹ rất mệt. Một lát bánh mì cháy chẳng thể làm hại ai con ạ, những con biết điều gì thực sự gây tổn thương cho người khác không? Những lời chê bai trách móc cay nghiệt đấy […] Điều mà cha học được qua nhiều năm tháng, đó là học cách chấp nhận sai sót của người khác và chọn cách ủng hộ những khác biệt của họ. Đó là chìa khóa quan trọng nhất để tạo nên một mối quan hệ lành mạnh, trưởng thành và bền vững con ạ. Cuộc đời rất ngắn ngủi để thức dậy với những hối tiếc và khó chịu. Hãy yêu quý những người cư xử tốt với con, và hãy cảm thông với những người chưa làm được điều đó”.

(Theo TTTD.VN)

Câu 1 (0.5 điểm). Xác định và gọi tên một thành phần biệt lập có trong đoạn (1),

Câu 2 (0.5 điểm). Theo người cha, điều gì thực sự gây tổn thương cho người khác?

Câu 3 (1,0 điểm). Xét trong ngữ cảnh văn bản, câu nói của người cha: “Em à, anh thích bánh mì cháy mà” đã vi phạm phương châm hội thoại nào? Việc vi phạm ấy nhằm mục đích gì?

Xem thêm chi tiết đáp án đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn văn 2020 Đồng Nai

Đề thi vào 10 môn văn Đồng Nai 2019

I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Mỗi chúng ta đều giống một đóa hoa. Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc “đời hoa” bên vệ đường.

Sứ mệnh của hoa là nở. Cho dù không có những ưu thế để như nhiều loài hoa khác, cho dù được đặt ở bất cứ đâu, thì cũng hãy bừng nở rực rỡ, bung ra những nét đẹp mà chỉ riêng ta mới có thể mang đến cho đời.

[…]

Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu.

(Kazuko Watanabe, Mình là nắng việc của mình là chói chang, Vũ Thùy Linh dịch, NXB Thế giới, 2018)

Câu 1 (0.5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2 (1.0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong câu văn: Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc “đời hoa” bên vệ đường.

Câu 3 (0.5 điểm). Nêu hàm ý của câu: Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu.

Xem thêm chi tiết đáp án đề thi tuyển sinh lớp 10 môn văn 2019 Đồng Nai

Đề thi tuyển sinh môn văn năm 2018 Đồng Nai

Đọc kĩ đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Giữa năm 2015, bà Lê Thị Thảo, mẹ của Hòa, quyết định tặng thận…

[…] Tháng 3- 2016, Hòa lên bàn mổ để tặng một quả thận cho một người phụ nữ trạc tuổi mẹ mình. Người được nhận thận quê ở Hà Nam, đã bị suy thận nhiều năm và cần được ghép thận để tiếp tục được sống.

[…] Để tặng được quả thận, từ khi quyết định hiến tặng đến khi lên bàn mổ, bà Thảo đã phải hơn 10 lần một mình một xe máy từ Bắc Ninh ra bệnh viện Việt Đức ở Hà Nội để làm các xét nghiệm. Con gái bà Thảo cũng vậy, và cuối năm 2016 khi mẹ con bà được mời lên truyền hình để nói về ý nghĩa của việc hiến tặng mô tạng, hai mẹ con lại chở nhau bằng xe máy từ Bắc Ninh lên Hà Nội rồi vội vã trở về ngay trong đêm… Nếu có ai hỏi về chuyện hiến thận đã qua, bà chỉ phẩy tay cười: “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây giờ tôi chẳng phải đang rất khỏe là gì…”.

Và nhờ cái “bình thường” của mẹ con bà Thảo, giờ đây có thêm hai gia đình được hạnh phúc vì người thân của họ khỏe mạnh trở lại. Ở Bắc Ninh, gia đình bà Thảo cũng đang rất vui vẻ. Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài, như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình.

Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kỳ lạ, nhưng khi gặp họ và trò chuyện, chúng tôi mới thấy mẹ con bà Thảo không kỳ lạ chút nào, họ chỉ muốn tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi không thể nào định danh được!

(Trích Hai mẹ con cùng hiến thận, Lan Anh, Báo Tuổi Trẻ ngày 31/5/2018)

Câu 1. (0,5 điểm)

Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2. (0,5 điểm)

Chỉ ra lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích.

Xem thêm chi tiết đáp án đề thi văn vào lớp 10 Đồng Nai 2018

Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn văn năm 2017 Đồng Nai

I. ĐỌC HIỂU(3,0 điểm)

Đọc kĩ hai khổ thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

(1) Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã kèn then, đêm sập cửa,

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

(2) Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

(Trích khổ đầu và khổ cuối Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Ngữ văn 9, tập 1, trang 139-140)

Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt của hai khổ thơ trên. (0,5 điểm)

Câu 2. Chỉ ra các phép tu từ và tác dụng của chúng trong hai đoạn thơ sau: (1,0 điểm)

Mặt trời xuống biển như hòn lửa.

và: Mặt trời đội biển nhô màu mới

Xem thêm chi tiết đáp án đề thi văn vào lớp 10 Đồng Nai 2017

Trên đây là nội dung đáp án đề thi vào 10 môn văn tỉnh Đồng Nai năm 2021 và các năm trước đó để các em đối chiếu, thử sức với các đề khác nhau. Chúc các em luôn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi tuyển sinh vào lớp 10 này.

Bài thu hoạch lớp trung cấp chính trị (3 Mẫu) Mẫu bài thu hoạch lớp lý luận chính trị

Bài thu hoạch lớp trung cấp chính trị là bài thu hoạch được viết sau khóa học bồi dưỡng chính trị và nêu được tình hình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn tại địa phương.

Thông qua 3 mẫu bài thu hoạch này các bạn sẽ có thêm kinh nghiệm để hoàn thành bài thu hoạch cho mình. Vậy sau đây là nội dung chi tiết bài thu hoạch, mời các bạn cùng theo dõi tại đây.

Các bài thu hoạch của lớp trung cấp chính trị

  • Bài thu hoạch lớp trung cấp chính trị – Mẫu 1
  • Bài thu hoạch lớp trung cấp chính trị – Mẫu 2
  • Bài thu hoạch đi thực tế lớp trung cấp chính trị

Bài thu hoạch lớp trung cấp chính trị – Mẫu 1

BÀI THU HOẠCHĐỀ TÀI: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ XÃ …………….. THỊ XÃ …………….

A/- PHẦN MỞ ĐẦU

* Lý do chọn đề tài:

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế thế giới. Đảng ta xác định mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn chủ văn minh”, với nhiều chiến lược đang đặt ra (vừa là thời cơ, vừa là thách thức ), đôí với đất nước ta trên nhiều lĩnh vực: đời sống kinh tế chính trị, văn hoá – xã hội, Quốc phòng – an ninh và đối ngoại. Vì vậy, mọi vấn đề của đất nước để được dân biết và ủng hộ công cuộc đổi mới đất nước của Đảng. Đó là đảm bảo quyền làm chủ của người dân thông qua quy chế dân ở cơ sở.

Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm đảm bảo cho người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trực tiếp ở nơi cư trú và cơ quan, đơn vị công tác; đảm bảo mọi đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật đến tận dân là cầu nối giữa Đảng và Nhà nước với dân.

…………….. là xã thuộc chương trình 135 của Thị xã ……………., vì vậy việc thực hiện quy chế dân là rất cần thiết và quan trọng. Do đó, em chọn đề tài thực hiện quy chế dân chủ viết bài thu hoạch nhằm thực quy chế dân chủ của xã mình trong thời gian tới.

B/- PHẦN NỘI DUNG

I/. Cơ sở lý luận

1.Quan điểm chủ nghĩa mác- Lênin

Dân chủ là một hình thức chính trị của xã hội, như vậy có thể dân là chính quyền thuộc về nhân dân, một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đó là nhà nước của chế độ dân chủ.

Dân chủ là khát vọng vươn tới, là mục tiêu đấu tranh của xã hội loài người, lịch sữ thế giới chứng tỏ rằng, sự phát triển của nền dân chủ qua các giai đoạn từng nấc thang là: dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là đỉnh cao của nền dân chủ, vì các nền dân chủ. Trước đó là dân chủ của giai cấp thiểu số trong xã hội, dân chủ mang bản chất giai cấp sâu sắc giai cấp nào nắm được chính quyền về tay mình cũng chỉ bảo đảm quyền dân chủ của giai cấp mình. Dân chủ chân chính là quyền làm chủ của mọi công dân đối với nhà nước, đối với toàn xã hội.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức chính trị nhà nước của xã hội. Trong đó con người là thành viên trong xã hội có đủ tư cách công dân là quyền làm chủ của nhân dân.

2. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh:

Cơ sơ quyền làm chủ của nhân dân là “ tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” dân là gốc, dân là chủ, dân làm chủ. Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được chủ Tịch Hồ Chí Minh khẳng định “nhà nước ta là nhà nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì nhân dân, bao nhiêu quyền hạn điều là của dân”. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân bầu cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã là do dân bầu chọn nên. Nói tóm lại, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn xác định dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội. Trong quá trình đổi mới đất nước, nền dân chủ ngày càng mở rộng về nội dung; dân chủ cả trong chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội và các cấp từ trung ương đến cơ sở; Đến từng người dân cả về dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nhằm xây dựng nền văn chủ xã chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

3. Quan điểm của về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở:

Quan điểm chỉ đạo việc xây dựng quy chế dân chủ cơ sở đã được Đảng ta chỉ rõ trong chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Ban chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 24 tháng 04 năm 2007 về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở:

Đặc biệt phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Coi trong cả ba mặt nói trên, không vì nhấn một mặt mà coi nhẹ, hạ thấp các mặt khác.

Vừa phát huy tốt chế độ dân đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của Quốc Hội, chính phủ, hội đồng nhân và uỷ ban nhân dân các cấp vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết thực gắn liền với ích của mình.

Phát huy dân chủ gắn liền với phát triển kinh tế- văn hoá – xã hội và nâng cao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả.

Nội dung và chế thực các quy chế dân chủ ở sở phải phù hợp với biện pháp và pháp luật, thể hiện tinh thần đi đôi với kỷ cương, trật tự, quyền hạn gắn liền với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ; chống quan liêu, mệnh lệnh, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật.

Gắn quá trình xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ với công tác cải cách hành chính sửa đổi những cơ chế chính sách và thủ tục hành chính không phù hợp.

Trong thực quy chế dân hiện nay xã …………….. đang thực hiện theo pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 20 tháng 04 năm 2007.

Xem thêm: Bài thu hoạch nâng hạng giáo viên Tiểu học hạng II

II/. Thực trạng trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong vịêc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

1/. Đặc điểm tình hình:

…………….. là xã thuộc chương trình 135 của chính phủ, có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Vĩnh Tân, thị xã …………….; phía tây giáp xã Vĩnh Trạch và Vĩnh Trạch đông tỉnh Bạc Liêu; phía nam giáp biển Đông; phía bắc giáp xã Hưng Thành, Tỉnh Bạc Liêu. Xã có bờ biển dài 7km, diện tích tự diên 5888,48 ha, trong đó diện tích sản xuất 3.533 ha.

Xã có 11 ấp, với dân số 25.222 người, 4.577 hộ, trong đó dân tộc kinh 912 hộ, 4966 người, chiếm 19,93%, dân tộc khmer chiếm 3.359 hộ, 18.845 người, chiếm 73,39%, dân tộc Hoa chiếm 362 hộ,1.771 người, chiếm 6,68%. Hộ giàu 321 hộ, chiếm 7,01%, hộ khá 687 hộ, chiếm 15,01%, hộ trung bình 1613 hộ, chiếm 35,24%, nghèo 1435 hộ chiếm 31,35%, hộ cận nghèo 521 hộ, chiếm 10,54%.

Tổng số đảng viên của đảng bộ là 269 đ/c, trong đó ban chấp đảng uỷ có 20 d/c; ban thường vụ đảng uỷ có 07 đ/c; có 25 chi bộ trực thuộc, trong đó có 11 chi bộ ấp; 07 chi bộ trường học; 01 bộ hợp tác xã; 01 chi bộ quân sự; 01 chi bộ công An; 01 chi bộ Dân Vận; 01 chi bộ trạm y tế; 01 chi bộ khối đảng; 01 chi bộ khối chính quyền.

Tổng số đoàn viên; hội viên các đoàn thể là hiện có 7.752 đ/c, chiếm 30,74% so với tổng số dân trong đó: Đoàn thanh niên: 494 đoàn viên, chiếm 1,96% so với tổng số dân; HLHPN 2.585 hội viên chiếm 1025% so với tổng số dân; Hội cựu chiến binh 165 hội viên chiếm,065% so với tổng số dân; Hội LHTN 1.264 hội viên chiếm 5,01% so với tổng số dân; Hội nông dân 2.244 hội viên chiếm 8,90%so với tổng số dân; Hội người cao tuổi: 683 hội viên chiếm 2,71%so với tổng số dân; Công đoàn: 35 đoàn viên chiếm 1,71%so với tổng số dân; Hội chữ thập đỏ: 282 hội viên chiếm 1,12%so với tổng số dân.

2/. Củng cố ban chỉ đạo, xây dựng quy chế, kế hoạch hoạt động:

Sau đại hội Đảng nhiệm kỳ 2010-2015; xã tiến hành điều chỉnh bổ sung ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ có 16 đồng chí, do đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã làm trưởng ban, có 02 phó ban là 02 đồng chí phó bí thư xã Đảng uỷ xã đồng chí phó bí thư thường trực kiêm trưởng khối vận làm phó ban trực, các ban ngành là thành viên, có thông báo phân công cho từng thành viên cụ thể.

Điều chỉnh ban hành quy chế làm việc của ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân. Tổ chức tổng kết các hoạt động của ban chỉ đạo và định hướng hoạt động hàng năm; ngoài ra tham gia với thường trực Hội đồng nhân dân xã tổ chức kiểm tra, giám sát các chuyên đề về kinh tế – xã hội thực hiện các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, cải cách hành chính, công tác tiếp dân, hòa giải ở cơ sở;

Trong quá trình thực hiện ban chỉ đạo chợ ấp Năm căn làm điểm chỉ đạo chung

Thành lập 01 ban thanh tra nhân dân với 12 thành viên trong đó đồng chí phó Chủ tịch Mặt trận xã làm trưởng ban, các ấp đều có ban thanh tra nhân dân.

Thực hiện tốt chế độ thông tin báo cáo tháng, quý, năm theo đúng quy định.

3/. Thành tựu trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

a/. Tình hình triển khai:

Bằng nhiều hình thức và nội dung tổ chức triển khai thực hiện quy chế dân chủ cho tất cả các Đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân nắm rõ nội dung quy chế. Kết quả triển khai được như sau: Trong Đảng đạt 98,2%, BCH đoàn thể đạt 96,38%, đoàn viên hội viên đạt 81,16% và tuyên truyền ra dân đạt 61,45%.

Thông qua các cuộc họp lệ chi bộ, đảng bộ, các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cũng như Mặt trận các đoàn thể, các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thông tin đại chúng, tổ chức tuyên truyền được 478 cuộc có 14.542 lượt người dự và nghe.

Trong quá trình tổ chức thực hiện có tổ chức họp rút kinh nghiệm, để trên có sở đó đề ra nhiệm vụ, giải pháp thực hiện phù hợp với điều kiện của từng địa bàn ấp trong toàn xã.

Việc thực hiện tốt nhiệm vụ công tác tuyên truyền đã đóng góp làm chuyển biến tích cực về mặt nhận thức của nhân dân nói chung và đồng bào dân tộc nói riêng về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đồng thời góp phần thắng lại nhiệm vụ chính trị của địa phương.

b/. Kết quả trong việc thực hiện quy chế dân chủ xã …………………:

Thực hiện tốt chỉ thị số 30/CT/TW của bộ chính trị, và pháp lệnh số 34/PL/UBTVQH11 ngày 20/74/2007 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Được sự quan tâm chỉ đạo của Thị uỷ, cấp uỷ đảng chính quyền, mặt trận các đoàn thể, cơ quan đơn vị đều quan tâm chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ.

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã đạt được kết qua sau:

*Nội dung công khai để nhân dân biết:

Nhằm đảm bảo việc thực hiện nội dung quy chế dân chủ một cách có hiệu quả theo đúng quy định, thời gian, những vấn đề cần thông báo cho nhân dân biết là nội dung quan trọng trong việc thực hiện quy chế, từ đó thông tin rộng rãi bằng nhiều hình thức như thông tin tuyên truyền, thông qua việc tiếp xúc cử tri, các cuộc họp dân, các cuộc họp của các ban ngành đoàn thể, niêm yết công khai tại UBND Xã, nội dung cụ thể như: Luật thuế, luật nghĩa vụ quân sự, luật đất đai, luật hôn nhân gia đình,… dự toán thu chi ngân sách xã hàng năm, quyết toán thu chi các loại quỷ, những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của nhân dân, xây dựng cơ sở hạ tầng, chủ trương kế hoạch vay vốn, phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, danh sách cử tri bầu cử đại biểu quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 20….-2016, danh sách thanh niên được gọi nhập ngũ…Quả thực hiện các công việc nêu trên được nông dân đồng tình ủng hộ, được nhân dân đóng góp nhiều ý kiến, thiết thực góp phần thắng lợi nhiệm vụ kinh tế xã hội ở địa phương.

Đặc biệt là phát huy tốt vai trò, trách nhiệm có hiệu quả của tổ 1 cửa UBND xã.

* Nội dung dân bàn và và quyết định trực tiếp:

Ngoài những vấn đề cần thông báo kịp thời cho dân biết về còn những vấn đề quan trọng quyết định đến quyền lợi của nhân dân, xây dựng nông thôn của xã được Đảng uỷ – UBND xã quan tâm chỉ đạo thực hiện thông báo kịp thời rộng rãi ra dân, nhằm để cho nhân dân trực tiếp bàn bạc và quyết định qua hình thức họp dân từng tổ, khu ấp để thông qua cho nhân dân bàn bạc và trực tiếp quyết định cụ thể là:

Mức đóng góp của công trình phúc lợi, phục vụ cho cầu đường nông thôn, tiến hành họp dân xin ý kiến dân quyết định Xây dựng quy chế ấp văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh, trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan các tệ nạn xã hội, Họp xét bình nghị hộ thoát nghèo, các dự án hỗ trợ sản xuất, bàn bạc những công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân cư, nội dung tập trung và có hiệu quả nhất là việc bàn bạc thống nhất chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi xây dựng kết cấu hạ tầng, mức đóng góp phương pháp tiến hành thi công, nạo vét kênh thuỷ lợi nội đồng, là cầu đường giao thông nông thôn, sắp xếp thứ tự ưu tiên trong xem xét xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương; các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản khác ngoài quy định của Nhà nước. Tổ chức phê bình và tự phê bình trước dân, lấy phiếu tình nhiệm các chức danh chủ chốt do HĐND xã bầu và tổ chức hiệp thương giới thiệu bầu trưởng ban nhân dân ấp để dân quyết định.

Vấn đề dân bàn và quyết định trực tiếp đã tạo điều kiện cho nhân dân được quyết định trực tiếp những vấn đề có liên quan đến đời sống, sinh hoạt của cộng đồng dân cư, từ đó được nhân dân đồng tình ủng hộ, hiệu quả công việc được nâng cao, trong quá trình bàn bạc và quyết định. Từ đó tạo niềm tin ở nhân dân, người tham gia đóng góp ngày càng nhiều hơn.

* Nội dung dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định:

Thực hiện cơ bản nội dung dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định tập trung vào những nội dung như:

Trước khi quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến việc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương như: dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án thâm canh định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của xã, dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của xã và dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình dự án trên địa bàn; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư, hiệp thương lấy ý kiến chọn người ra ứng cử Đại biểu HĐND xã, dự thảo các kế hoạch triển khai các chương trình quốc gia về y tế, nước sạch và vệ sinh môi trường, các chương trình an sinh xã hội, hỗ trợ sản xuất, bình nghị hộ thoát nghèo, bình nghị hộ gia đình văn hoá…thì HĐND – UBND xã kết hợp với mặt trận, các ban ngành đoàn thể, UBND các cấp tổ chức họp dân để nhân dân bàn bạc, có ý kiến đóng góp đề xuất đến HĐND – UBND xã ra quyết định.

* Nội dung nhân dân giám sát, kiểm tra:

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ở địa phương, công tác giám sát kiểm tra của nhân dân đối với hoạt động của HĐND – UBND cũng như cán bộ nhân viên, đại biểu HĐND xã, nhằm tránh được hoạt động không hiệu quả. Để thực hiện tốt công tác trên được cụ thể bằng hình thức thông qua các kỳ họp HĐND, nơi đại diện các đoàn thể tham dự, tiếp dân để hòa giải kịp thời, những khiếu nại, tố cáo của công dân, ban thanh tra nhân dân, thông qua cho nhân dân biết về hoạt động của HĐND, kết quả thực hiện nghị quyết của HĐND và các quyết định của UBND Xã giải quyết khiếu kiện của công dân, dự toán và quyết toán ngân sách xã, thực hiện chế độ chính sách, các chương trình an sinh xã hội khác để nhân dân giám sát kiểm tra phát hiện chấn chỉnh kịp thời. Kết quả từ đầu năm đến nay đã thực hiện theo quyết định 167/CP của chính phủ đã thực hiện được 266 căn; đợt 1/20…. đã triển khai được 265 căn;

Thực hiện theo quyết định số: 74/Ttg năm 2010 về chuyển đổi ngành nghề là 235 hộ;

Hỗ trợ hộ nghèo theo quyết định số: 102/Ttg là 1.435 hộ ;

Hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo theo quyết định số: 268/Ttg là 1.435 hộ;

Hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo theo quyết định số: 471/Tgg mỗi hộ được 250.000đ/năm với số tiền là 358.750.000 đồng

Kết quả cải cách thủ tục hành chính: UBND xã có quyết định thành lập bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính của công dân, bố trí phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên, sắp xếp chỗ, nơi làm việc phục vụ tốt cho công tác cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” đáp ứng được yêu cầu; thực hiện niêm yết công khai thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực theo quy định, từ đó đáp ứng kịp thời, giảm thời gian đi lại, giảm các thủ tục không cần thiết cho người dân; Trong tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính cho công dân, cán bộ luôn quan tâm hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, có tác phong, lề lối làm việc nghiêm chỉnh, văn minh, lịch sự, được nhân dân tín nhiệm.Tiếp nhận 32 vụ việc, đưa ra hòa giải 28 vụ việc, hòa giải thành 9 vụ việc, không thành 19 vụ việc, hiện còn tồn tại tổ hòa giải 04 vụ việc.

Từ khi thực hiện pháp lệnh số 34/PL/UBTVQH11 ngày 20/74/2007 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.đưa nền kinh tế xã nhà phát triển đồng bộ trên nhiều lĩnh vực đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận người dân được cải thiện rõ rệt bộ mặt tnông thân này càng đổi mới. lĩnh vực văn hoá xã hội tiếp tục phát triển và có nhiều tiến bộ; quốc phòng an ninh được giữ vững ổn định, hệ thống chính trị ngày càng được củng cố hoàn thiện, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được phát huy hơn và có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

c/. Hạn chế

Việc triển khai pháp lệnh dân chủ chưa đều, chưa thường xuyên, mốt ít cấp uỷ Đảng, chính quyền, trưởng ban nhân dân ấp, lãnh đạo cơ quan đơn vị và cán bộ đảng viên, công chức quán triệt nội dung thực hiện Quy chế dân chủ chưa đầy đủ, một số nơi việc thực hiện bàn bạc lấy ý kiến nhân dân chưa được chú trọng và nội dung công khai còn chồng chéo, thiếu rõ ràng. nhất là việc tổ chức cho nhân dân kiểm tra giám sát các công trình xây dựng cơ bản, bên cạnh vẫn còn một bộ phận người dân ít quan tâm đến việc thực hiện Quy chế dân chủ.

Sự phối hợp giữa UBND xã với Mặt trận các đoàn thể từng lúc chưa được đồng bộ, hiệu quả chưa cao; hoạt động của ban thanh tra nhân dân còn hạn chế, việc thực hiện pháp lệnh dân chủ gắn với cải cách hành chính chuyển biến còn chậm so với yêu cầu.

Mặt trận các đoàn thể chưa phát huy tốt vai trò chức năng giám sát và phản biện xã hội, từ đó chưa làm tốt nhiệm vụ đại diện cho quyền và lợi ích của nhân dân, trình độ năng lực một số cán bộ chưa ngang tầm với nhiệm vụ đặt ra.

Trong quá trình chỉ đạo thực hiện pháp lệnh dân chủ, ban chỉ đảo thiếu kiểm tra chặt chẽ, một số ấp làm chưa tốt việc tổ chức họp định kỳ và sơ tổng kết theo quy định

* Nguyên nhân của thành tựu:

Có sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của ban chỉ đạo Thị uỷ và Đảng uỷ, phát huy vai trò tham mưu của ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ của xã.

Được sự đồng thuận trong cán bộ và nhân dân thông qua việc tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ.

Đảng uỷ có chỉ đạo sơ tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế thiếu sót để thực hiện pháp lệnh dân chủ ở xã

* Nguyên nhân hạn chế:

Sự phối hợp chưa đồng bộ nhịp nhàng của từng thành viên trong ban chỉ đạo cũng nhưng các ngành đoàn thể trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân tích cực hưởng ứng thực hiện pháp lệnh dân chủ và những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích của nhân dân.

Trình độ năng lực của cán bộ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, chưa nắm vững nội dung pháp lệnh dân chủ, thiếu xây dựng kế hoạch, chưa thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát, việc nắm tâm tư nguyện vọng và giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân còn chậm

* Bài học kinh nghiệm

Trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở địa phương em rút ra bài học kinh nghiệm như sau:

– Cần tiếp tục quán triệt chỉ thị 30 – TW và pháp lệnh 34 của UBTVQH, đến chi bộ Đảng viên, hội viên thông qua quy chế dân chủ, các ngành có trách nhiệm xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, khắc phục quan liêu thiếu trách nhiệm, mất dân chủ trong giải quyết các công việc, đẩy mạnh quan tâm xây dựng về tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, Đảng Viên, đủ sức đáp ứng trong tình hình mới.

– Thực hiện đúng theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

– Phối hợp Mặt Trận, các đoàn thể, ban thanh tra nhân dân thường xuyên kiểm tra, kịp thời nắm tư tưởng, những kiến nghị có liên quan đến lợi ích chính đáng của nhân dân.

– Ban chỉ đạo quy chế dân chủ xây dựng kế hoạch kiểm tra, phân công từng thành viên, phát huy trách nhiệm hơn nữa, định kỳ sơ, tổng kết kịp thời khen thưởng cho tổ chức và các nhân, điển hình các khu dân cư thực hiện quy chế dân chủ.

3/. Phương hướng và giải pháp:

* Phương hướng

Thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế chính trị của địa phương;

Cấp uỷ Đảng thường xuyên xuống địa bàn lắng nghe tâm tư nguyện vọng của nhân dân để xây dựng phương hướng, kế hoạch cho những năm tiếp theo;

Báo cáo kết quả hoạt động của đại biểu hội đồng nhân dân biết;

-Tiếp tục tuyên truyền chỉ thị 30-TW và pháp lệnh 34 của UBTVQH về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở;

Niêm yết công khai thủ tục cải cách hành chính, quan tâm giải quyết khiếu nại tố cáo của người dân được các ngành, các cấp giải quyết kịp thời, tránh gây phiền hà cho nhân dân nhất là trong giải quyết tranh chấp đất đai.

* Nhiệm vụ:

Tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát của nhân dân. Ngoài việc thông qua các đoàn thể nhân dân còn thực hiện quyền kiểm tra và giám sát thông qua tổ chức ban thanh tra nhân dân.

Cấp uỷ Đảng chính quyền đã tổ chức cho nhân dân tham gia đóng góp, lấy ý kiến đối với đảng viên về việc thực hiện cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Các cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân đề cao vai trò trách nhiệm, coi trọng phát huy dân chủ trực tiếp của nhân dân trong kiểm tra giám sát, tham gia đóng góp ý kiến cho cán bộ Đảng viên

Giữ mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân, tích cực giữ gìn trật tự an toàn xã hội, thực hiện công tác phê bình và phê bình đối với cán bộ chủ chốt.

* Giải pháp:

Để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở xã trong thời gian tới được phát huy toàn diện vững mạnh như sau:

Kiện toàn bộ máy ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở xã, nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức lối sống; bố trí sử dụng cán bộ hợp lý, đúng chuyên môn và nghiệp vụ.

– Thực hiện nhiệm vụ chính trị Đảng bộ về việc thực hiện quy chế dân chủ.

– Sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận các đoàn thể trong công tác tuyên truyền và tổ chức thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở. Đồng thời gắn với cuộc vận động “Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

– Thường xuyên tổ chức, đổi mới phương thức tập hợp nhân dân, đoàn viên, hội viên của các đoàn thể nhân dân, thường xuyên phản ánh, ý kiến về xây dựng Đảng, chính quyền; thường xuyên kiểm tra giám sát để kịp thời có hướng chỉ đạo.

– Định kỳ sơ tổng kết đúng giá rút kinh nghiệm có biểu dương khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể thực hiện tốt nhiệm vụ này.

– Phối hợp Mặt Trận, các đoàn thể, ban thanh tra nhân dân thường xuyên kiểm tra, kịp thời nắm tư tưởng, những kiến nghị có liên quan đến lợi ích chính đáng của nhân dân.

III/- PHẦN KẾT LUẬN

1/. Kết luận

Qua nghiên cứu việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã ………………… tôi rút ra kết luận:

Trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở xã …………………, công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện luôn có sự phối hợp giữa chính quyền, Mặt trận, và các đoàn thể nhân dân, có xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, quốc phòng gắn với việc thực hiện quy chế dân chủ.

Nhiều chủ chương, chính sách pháp luận của nhà nước có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân được triển khai tốt thực hiện theo phương châm “dân biết, dân

bàn,dân làm và dân kiểm tra”

Việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở xã ………………… đã góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo và điều hành bộ máy chính quyền, kịp thời triển khai chủ trương của cấp uỷ trong việc phát triển kinh tế – xã hội tạo cho người dân phát triển sản xuất và tạo nên tinh thần đoàn kết gắn bó trong nhân dân, tinh thần tương thân tương ái giúp nhau xóa đói giảm nghèo.

2/. Kiến nghị

Quan tâm đào tạo chuẩn hóa cán bộ xã, ấp và thực hiện tốt các chế độ chính sách có liên quan đến quyền lợi cán bộ nhất là sinh hoạt phí hành tháng đặc biệt là cán bộ không hưởng lương.

Quan tâm hỗ trợ vốn và dạy nghề cho hộ nghèo, đang gặp khó khăn trong cuộc sống về sản xuất.

Tăng cường công tác tuyên truyền thực hiện pháp lệnh dân chủ (băng, tài liệu, loa, hình …) bằng tiếng dân tộc vì toàn xã đến 73% là người dân tộc khơme

Đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa ở ấp nhất là nhà hợp cộng đồng ( hiện nay xã có 8/11 ấp có nhà sinh hoạt cộng đồng còn lại 3 ấp chưa có nhà sinh hoạt) nhằm giúp cho việc họp dân thuận tiên hơn.

Đề nghị hổ trợ kinh phí cho công tác thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Bài thu hoạch lớp trung cấp chính trị – Mẫu 2

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nhiều khâu, nhiều công việc khác nhau, song có một nội dung mà Người đặc biệt quan tâm, đó là vấn đề kỷ luật của Đảng. Người khẳng định: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ đảng viên”. [1] Đảng muốn mạnh thì trước hết phải có kỷ luật. Bằng ngược lại, nếu kỷ luật lỏng lẻo, Đảng chắc chắn sẽ suy yếu, không thể đảm đương được vai trò lãnh đạo đất nước, lãnh đạo nhân dân trước những đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn cách mạng. Thi hành kỷ luật trong Đảng cũng chính là để giáo dục, sửa chữa khuyết điểm, giúp loại bỏ những phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất, bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động của các tổ chức đảng và đảng viên, củng cố sự đoàn kết cũng như nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật của Đảng được thể hiện trong hàng ngàn bài nói, bài viết khác nhau. Tuy nhiên, tựu chung lại, di sản tư tưởng của Người về kỷ luật của Đảng có thể khái quát qua một số nội dung sau:

Thứ nhất, kỷ luật của Đảng phải là “kỷ luật sắt”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định điều này: “Đảng có kỷ luật rất nghiêm khắc, tất cả Đảng viên đều phải tuân theo”. [2] Hoặc là: “Đảng phải có kỷ luật rất nghiêm. Kiên quyết chống những hiện tượng phớt kỷ luật, phớt tổ chức”. [3] Kỷ luật sắt này phải được giáo dục, quán triệt ngay từ khâu giáo dục, bồi dưỡng chuẩn bị kết nạp Đảng: “Trước khi kết nạp một đảng viên mới, phải dựa vào quần chúng mà xem xét cẩn thận (…). Những điều ấy chưa đủ, còn phải giáo dục thêm về kỷ luật sắt và tự giác của Đảng…” [4] Có thể thấy, trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ luật là một vấn đề vô cùng quan trọng, liên quan trực tiếp tới sức mạnh của tổ chức Đảng. Kỷ luật của Đảng không có ngoại lệ, bất cứ cán bộ, đảng viên nào cũng phải phục tùng vô điều kiện.

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác nêu gương thực hiện kỷ luật Đảng. Kỷ luật đặt ra là để mỗi cán bộ, đảng viên bắt buộc phải thực hiện, chấp nhận gò cái tôi cá nhân mình trong khuôn khổ của tổ chức. Tất cả để hướng đến thực hiện sứ mệnh cao cả nhưng rất vinh quang của một người đảng viên: đó là hi sinh quyền lợi cá nhân để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chính vì vậy, khi sự giác ngộ càng cao thì tính bắt buộc càng ít đi. Đối với một cán bộ, đảng viên, khi đã giác ngộ lý tưởng cách mạng, thì họ phục tùng kỷ luật Đảng một cách tự giác, thoải mái mà không cần những biện pháp cưỡng ép, chế tài. Thậm chí, đặt mình trong kỷ luật Đảng, cũng có nghĩa là người cán bộ, đảng viên phải nêu gương, chấp nhận thiệt thòi, hi sinh lợi ích cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đề cập đến vấn đề này một cách rất cụ thể: “Anh em ngoài Đảng cho là Đảng thiên tư thiên vị. Có không? Có. Nhưng cái “thiên” không phải như anh em ngoài Đảng tưởng. Cái “thiên” ở đây là: Thí dụ, hai anh A là người trong Đảng và B là người ngoài Đảng, hai người cùng làm một cơ quan ấy, cùng có thành tích như nhau thì anh A được khen thưởng thấp hơn anh B. Trái lại, hai anh A, B cùng có khuyết điểm, cũng một khuyết điểm ấy thì anh A phải bị phê bình hay xử trí nặng hơn anh B”. [5] Như vậy, chỉ có những cán bộ, đảng viên giác ngộ được lý tưởng cách mạng mới có thể tự giác hi sinh quyền lợi cá nhân để phục tùng kỷ luật Đảng một cách tuyệt đối; bằng ngược lại, họ sẽ luôn bị vấn đề lợi ích chi phối, không thể chấp hành kỷ luật Đảng một cách vô tư.

Thứ ba, kỷ luật của Đảng phải dựa trên tình đồng chí thương yêu nhau. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tăng cường kỷ luật Đảng không phải là để kỷ luật cho nhiều đảng viên, mà chủ yếu để nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường khối đoàn kết trong Đảng. Ngay trong vấn đề xử lý các cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật cũng cần quán triệt nguyên tắc là nghiêm minh nhưng phải thấu tình đạt lý. Xử lý kỷ luật Đảng phải nhằm giúp cho người vi phạm nhận ra khuyết điểm của bản thân để không ngừng tiến bộ, chứ không phải để triệt hạ lẫn nhau. Nói về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đoàn kết là sức mạnh của Đảng. Đoàn kết chặt chẽ và kỷ luật nghiêm khắc, hai điều đó không thể rời nhau”. [6] Như vậy, mục đích của kỷ luật là để tăng cường đoàn kết, ngược lại, đoàn kết là để cùng đảm bảo thực hiện kỷ luật tốt hơn. Nếu không hiểu rõ và làm đúng tinh thần ấy, thì tổ chức Đảng sẽ mất đoàn kết và tan rã.

Thứ tư, kỷ luật của Đảng phải đi đôi với mở rộng dân chủ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai mặt dân chủ và kỷ luật trong Đảng luôn đi đôi và tác động qua lại với nhau. Cụ thể là có mở rộng và tăng cường dân chủ trong Đảng thì mới bảo đảm được kỷ luật nghiêm minh. Mặt khác, có bảo đảm được kỷ luật nghiêm minh thì mới tăng cường, củng cố được dân chủ trong Đảng. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng ta là nguyên tắc tập trung dân chủ. Do đó, khi bàn bạc, hoạch định chủ trương, đường lối, giải quyết công việc thì cần phải rất dân chủ; còn khi đã thống nhất triển khai thì phải tuyệt đối tuân thủ kỷ luật, không ai được nói khác, làm khác. Bàn bạc thiếu dân chủ thì sinh ra bất mãn, oán ghét, từ đó dễ vi phạm kỷ luật. Ngược lại, thi hành công việc mà kỷ luật lỏng lẻo, mỗi người một phách thì sẽ thành dân chủ quá trớn. Cả hai hướng đó đều đi đến điểm chung là kết quả công việc kém, tổ chức Đảng mất uy tín trước quần chúng nhân dân. Vấn đề này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đề cập: “Nếu cán bộ không nói năng, không đề ra ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì để nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức không dám nói ra, do uất ức mà hoá ra oán ghét, chán nản”. [7] Vì thế, song song với siết chặt kỷ luật, cần phải mở rộng dân chủ thực chất trong Đảng. Mất dân chủ, dân chủ hình thức hoặc dân chủ quá trớn đều là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vô tổ chức, vô kỷ luật, làm suy yếu tổ chức Đảng.

Thời gian gần đây, vấn đề siết chặt kỷ luật Đảng đã được các cấp ủy Đảng từ trung ương đến cơ sở quan tâm. Nhiều văn bản về kỷ luật đảng đã được ban hành như: Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 của Ban chấp hành Trung ương về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… Trên cơ sở nhìn nhận thẳng thắn, nghiêm túc, trách nhiệm về thực trạng vấn đề thi hành kỷ luật Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên đã bị xử lý. Giai đoạn 2016 – 2019, có 1.111 tổ chức Đảng, 18.265 cấp ủy viên các cấp và 54.573 đảng viên bị xử lý kỷ luật. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật 8 tổ chức Đảng, 45 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật 111 đảng viên. Trong số đảng viên bị kỷ luật, có 92 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, gồm 2 ủy viên Bộ Chính trị, 21 ủy viên và nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 38 sĩ quan trong lực lượng công an, quân đội (cấp tướng là 23 người). [8] Những kết quả nêu trên đã cho thấy quyết tâm chính trị rất cao Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cá nhân đồng chí Tổng bí thư trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và siết chặt kỷ luật Đảng nói riêng.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vấn đề thực hành kỷ luật của Đảng thời gian qua vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái”. [9] Kỷ luật đảng có lúc, có nơi bị buông lỏng đã ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, song chủ yếu nhất vẫn là nguyên nhân chủ quan. Có thể liệt kê một số nguyên nhân chính như sau:

Một là, do bản thân một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, không làm tròn bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Thêm vào đó, cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở.

Hai là, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả.

Ba là, công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt chẽ. Sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, chưa thực hiện hiệu quả việc phát hiện, chấn chỉnh các sai phạm của cán bộ, đảng viên. Nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi bị buông lỏng, hoạt động tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người dám thẳng thắn đấu tranh.

Bốn là, một số nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nội dung chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi và thiếu chế tài xử lý.

Năm là, một số cấp ủy đảng, đặc biệt là người đứng đầu chưa có quyết tâm chính trị cao, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Từ đó dẫn đến việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm còn nể nang, thiếu cương quyết.

Từ việc phân tích các nguyên nhân như trên, vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kỷ luật Đảng, có thể xây dựng một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, trong sinh hoạt đảng cần thực hành tự phê bình và phê bình cho thực chất, hiệu quả. Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, đồng thời là phương pháp để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Làm tốt công tác này sẽ giúp cán bộ, đảng viên uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức, ngăn chặn có hiệu quả suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tự phê bình và phê bình nếu triển khai đúng nguyên tắc, chắc chắn sẽ giúp cán bộ, đảng viên nâng cao được ý thức chấp hành kỷ luật Đảng.

Thứ hai, trong Đảng phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta, đảm bảo cho Đảng trở thành một tổ chức đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động. Vì vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả kỷ luật Đảng, phải thực hiện nghiêm nguyên tắc này. Cụ thể là khi bàn bạc, thảo luận công việc thì cần tăng cường dân chủ, minh bạch; còn khi đã vấn đề thống nhất thì khi triển khai phải đề cao tính kỷ luật, dám chịu trách nhiệm. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở quan trọng đảm bảo cho kỷ luật Đảng được thực hiện một cách nghiêm minh.

Thứ ba, phải tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Đây là một bộ phận quan trọng công tác xây dựng Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả kỷ luật Đảng không thể tách rời hoạt động kiểm tra, giám sát. Hoạt động này không chỉ giúp phát hiện những biểu hiện vi phạm kỷ luật Đảng để xử lý, mà còn giúp kịp thời phát hiện tấm gương chấp hành tốt kỷ luật Đảng để biểu dương, khen thưởng, từ đó tạo sự lan tỏa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chú ý rằng, kiểm tra, giám sát là công việc của toàn Đảng và mọi đảng viên, chứ không phải là nhiệm vụ riêng của ủy ban kiểm tra các cấp.

Thứ tư, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng. Một trong các nguyên nhân khiến cho kỷ luật Đảng bị buông lỏng, đó là do việc xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm còn có biểu hiện nể nang. Do đó để nâng cao hiệu quả, hiệu lực kỷ luật Đảng, cần phải quán triệt quyết tâm chính trị cao từ trung ương xuống cơ sở. Việc xử lý kỷ luật nghiêm minh một mặt giúp loại bỏ những phần tử cơ hội, thoái hóa ra khỏi đảng, còn có tác dụng răn đe với những tổ chức, cá nhân khác, từ đó làm cho Đảng khỏe mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng, nhưng lại là nhân tố quyết định đối với việc đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của kỷ luật Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Các cơ quan tuyên truyền, tổ chức, giáo dục của Đảng phải làm cho cán bộ và đảng viên nhận rõ và theo đúng kỷ luật của Đảng. Đối với mỗi công tác quan trọng, cần phải làm cho mọi người hiểu cái gì nên làm, cái gì nên tránh, thế nào là đúng, thế nào là sai kỷ luật của Đảng. Như vậy kỷ luật của Đảng sẽ được bảo đảm, công tác của Đảng sẽ được thuận lợi, nhiệm vụ của Đảng sẽ chắc chắn hoàn thành”. [10] Ngày nay nhìn lại, đã 90 năm từ khi Đảng ra đời, có thể thấy vấn đề kỷ luật Đảng chưa bao giờ vơi bớt tính thời sự. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường, kỷ luật Đảng đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, vấn đề củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả kỷ luật Đảng theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng cần phải được tuyên truyền mạnh mẽ hơn nữa, để góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, để Đảng có đủ sức mạnh tiếp tục gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo Tổ quốc ta, nhân dân ta giành lấy những thắng lợi to lớn hơn nữa trong tương lai./.

Bài thu hoạch đi thực tế lớp trung cấp chính trị

BÀI THU HOẠCHQUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CỦA XÃ …………………

A/- PHẦN MỞ ĐẦU

1/- Lý do chọn đề tài:

Trước những yêu cầu đổi mới của sự nghiệp phát triển giáo dục, thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì giáo dục càng có vai trò quan trọng hơn, đặc biệt là vai trò quản lý giáo dục của chính quyền cơ sở; là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân; trong đó lực lượng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục là nồng cốt. Chính vì thế, giáo dục – đào tạo vừa gắn với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, với khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại.

Phát triển giáo dục của địa phương là một yêu cầu hết sức cần thiết và cấp bách, Chất lượng giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, đây là một công việc không đơn giản, ngoài sự nổ lực của ngành giáo dục, đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các khâu có liên quan, trong đó khâu quản lý giáo dục đóng vai trò quan trọng đặc biệt là quản lý giáo dục ở cơ sở nơi trực tiếp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục và sự quan tâm đầu tư mạnh mẽ của nhà nước để giáo dục thật sự là quốc sách hàng đầu. Nếu quản lý giáo ở cơ sở yếu thì cho dù đường lối, chủ trưởng của cấp trên có đúng đắn tới đâu thì cũng không mang lại kết quả cao được.

Chính vì vậy Trong nên em chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục ở xã …………………, huyện Cù lao Dung”

2/- Mục đích chọn đề tài:

Dựa vào đề tài đã chọn qua đó tiến hành phân tích, đánh giá những mặt đạt được và hạn chế, tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp quản lý giáo dục, đào tạo phù hợp, cụ thể với địa phương trong thời gian sắp tới.

3/. Phạm vi nghiên cứu:

– Thời gian: ngày 27/03/20….

– Không gian: xã …………………

Đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục ở xã ………………… năm 20…. ” nội dung giới hạn trong phạm vi quản lý hoạt động giáo dục ở địa bàn xã ………………… năm 20…. và giải pháp trong thời gian sắp tới.

4/. Phương pháp:

Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài, tiến hành phân tích nội dung, thống kê, đối chiếu với thực trạng quản lý giáo dục của xã …………………. Đồng thời tìm ra các giải pháp hiệu quả cho hoạt động giáo dục, để đưa chất lượng giáo dục của địa phương phát triển ngày càng tốt hơn nữa.

B/- PHẦN NỘI DUNG

I//- Cơ sở lý luận

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn lực con người càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục, phát triển kinh tế – xã hội.

Do xuất phát từ vai trò giáo dục – đào tạo là “quốc sách hàng đầu” đối với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho quốc gia. Sự phát triển của đất nước nói chung và của các địa phương nói riêng. Việc nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nhà nước là một yếu tố rất quan trọng để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của sự nghiệp phát triển giáo dục. Hoạt động quản lý giáo dục của của cơ quan quản lý nhà nước có vai trò to lớn trong việc tạo điều kiện tiền đề vững chắc cho giáo dục phát triển; làm cho hoạt động giáo dục đi vào trật tư kỷ cương; đảm bảo công bằng trong giáo dục, đào tạo thông qua hệ thống chính sách về giáo dục, đào tạo của nhà nước, tạo cơ hội cho mọi người tham gia vào quá trình phát triển giáo dục.

Giáo dục đào tạo nhằm phát triển toàn diện phẩm chất, nhân cách con người, tạo cơ sở nền tảng cho con người tham gia vào cuộc sống xã hội và lao động thực tiển. Việc nâng cao chất lượng chất lượng quản lý nhà nước đối với giáo dục là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả sự nghiệp phát triển giáo dục

1/- Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý hoạt động giáo dục

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng thời là nhà giáo, nhà văn hoá lớn của thế giới, Người sáng lập, đặt nền móng và chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục mới Việt Nam. Chỉ riêng về giáo dục, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã là một kho tàng, ở tầm chiến lược và ngày càng ngời sáng qua thực tiễn.

Nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, trước hết, phải nói đến tư tưởng giải phóng con người thoát khỏi tăm tối, lạc hậu, đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc văn minh, tiến bộ. Đây vừa là mục tiêu, vừa là khát vọng “tột bậc” của Người. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, dù ở trong hoàn cảnh nào, Người cũng là chiến sĩ tiên phong đi vào phong trào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập; giải phóng họ thoát khỏi ách áp bức bóc lột của thực dân phong kiến, thoát khỏi sự ràng buộc của hệ tư tưởng lạc hậu, tạo mọi điều kiện cho mỗi dân tộc và mỗi người dân đứng lên làm chủ nền văn hoá, làm chủ vận mệnh và tương lai của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người kế tục và phát triển cao hơn cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, dân trí của thế hệ những người Việt Nam yêu nước. Người đã tố cáo đanh thép chế độ thực dân Pháp trong việc “làm cho dân ngu để trị”, “gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát”, đòi quyền “tự do học tập” và “thực hành giáo dục toàn dân”. Đồng thời, Người đã dày công tìm kiếm, phát hiện và giới thiệu cho đất nước những nét tiến bộ mới của nền giáo dục kiểu mới của nhân dân lao động – nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính nhân đạo và tính dân chủ cao cả, bảo đảm cho sự phát triển toàn diện những năng lực sẵn có của con người.

Trong suốt thời gian lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Người chỉ rõ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với cách mạng; giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước. Người khẳng định: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn cho dân mạnh, nước giàu, thì mỗi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Muốn cho dân mạnh, nước giàu thì dân trí phải cao, phải “đa dạng hoá các loại hình đào tạo, mở trường vừa học, vừa làm để tạo điều kiện cho người lao động, cán bộ, chiến sỹ được đi học”. Khi dân trí cao sẽ xuất hiện nhiều nhân tài tham gia xây dựng đất nước. Người chỉ cho chúng ta con đường đưa đất nước thoát khỏi cảnh yếu hèn – đó là con đường phát triển giáo dục. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và kêu gọi mọi người thi đua học tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc văn minh, tiến bộ.

2/- Quan điểm của về Đảng và nhà nước về quản lý hoạt động giáo dục

Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước. Vì vậy, ngay từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam.

Bắt đầu từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng đã ra quyết định số 14-NQ TW về cải cách giáo dục với tư tưởng; Xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.

Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội Đảng. Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đã được Đại hội VII xem là quốc sách hàng đầu. Đó là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản đảm đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế – xã hội. Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân giúp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước. Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai. Phải mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức. Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại.

Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục: Người đi học phải đóng học phí, người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo. Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học. Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định một lần nữa vai trò quan trọng của khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” . Coi trọng cả 3 mặt của giáo dục: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đổi mới hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và đại học, kết hợp đào tạo với nghiên cứu, tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận với công nghệ tiên tiến. Đảng ta đã có những chuyển hướng về hợp tác quốc tế trong đào tạo cán bộ. Nghị quyết 02-NQ/HNTW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đó nhấn mạnh quan điểm hợp tác đào tạo với các nước như sau:

– Dành ngân sách nhà nước thỏa đáng để cử những người giỏi và có phẩm chất tốt đi đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt ở những nước có nền khoa học, công nghệ phát triển.

– Khuyến khích đi học nước ngoài bằng con đường tự túc, hướng vào những ngành mà đất nước đang cần, theo quy định của Nhà nước. Để thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã dành 100 tỉ đồng đầu tư cho việc đào tạo ở nước ngoài vào năm. Vấn đề nhân tài ngày càng trở nên bức thiết, đến Đại hội IX, Trung ương Đảng một lần nữa nhấn mạnh rằng: “Có chính sách hỗ trợ đặc biệt những học sinh có năng khiếu, hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở các bậc học cao. Có quy hoạch và chính sách tuyển chọn người giỏi, đặc biệt chú ý đến con em công nhân và nông dân để đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học. Tăng ngân sách nhà nước cho việc cử người đi học ở các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Khuyến khích việc du học tự túc” Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”. Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng – chính trị, nhân cách, đạo đức, lối sống cho người học.

Tăng cường phối hợp nhà trường và gia đình, phát huy vai trò giáo dục gia đình.

Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm. Tăng cường giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và các địa phương, vùng, miền. Nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học xã hội, nhân văn, nhất là các môn học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sớm xây dựng chính sách sử dụng và tôn vinh các nhà giáo, cán bộ quản lý giỏi, có công lao lớn trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, chấn chỉnh việc phong chức danh, học vị, cấp văn bằng. Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn, trên cơ sở bảo đảm chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đào tạo với sử dụng.

Mở rộng hệ thống trường lớp giáo dục mầm non trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, nông thôn.

Hoàn thành cơ bản phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010, củng cố kết quả phổ cập tiểu học, đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục xóa mù chữ, ngăn ngừa tái mù chữ, giáo dục cho người lớn. Thực hiện phổ cập trung học ở những nơi đó phổ cập xong trung học cơ sở.

Điều chỉnh cơ cấu đào tạo, tăng nhanh dạy nghề và trung học chuyên nghiệp. Hiện đại hóa một số trường dạy nghề nhằm chuẩn bị đội ngũ công nhân bậc cao có trình độ tiếp thu và sử dụng công nghệ mới và công nghệ cao. Phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế – xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập.

– Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Có chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo và các đối tượng chính sách xã hội. Ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Chú trọng đào tạo cán bộ vùng dân tộc (cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể từ bản, ấp trở lên và cán bộ khoa học kỹ thuật). Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội trú, bán trú cho học sinh dân tộc thiểu số; từng bước mở rộng quy mô tuyển sinh, đáp ứng yêu cầu đào tạo toàn diện đi đôi với cải tiến chính học bổng cho học sinh các trường này. Thực hiện chế độ miễn phí học tập, cung cấp sách giáo khoa cho học sinh vùng cao, vùng sâu, vùng xa, học sinh người dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn. Có chính sách bổ xung kiến thức cần thiết cho số học sinh dân tộc thiểu số đó tốt nghiệp trung học phổ thụng hoặc trung học cơ sở mà không có điều kiện học tiếp để cóc em trở về địa phương tham gia công tác ở cơ sở.

Hội nghị Trung ương 6, khóa IX đó đề ra 3 nhiệm vụ để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII:

Một là, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo nhân tài. Trong nhiệm vụ này, trọng tâm là đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin vào các cấp học, bậc học. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách tổ chức phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài.

Hai là, phát triển hợp lý quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn phục vụ quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu xã hội; vấn đề bổ túc tiểu học cho người lớn và phát triển giáo dục không chính quy; xõy dựng hệ thống trung tâm học tập cộng đồng.

Ba là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo cơ hội học tập cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là cơ hội học cao đẳng và đại học cho con em nông dân và các gia đình diện chính sách. Nhìn lại tình hình đất nước, trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhân dân ta đó đạt được những thành tựu to lớn cú ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, cho đến nay, nước ta vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển. Trong khi Việt Nam bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thở nhiều nước đó vượt qua thời đại cách mạng công nghiệp đi vào thời đại cách mạng thông tin, xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức. Khoảng cách về trình độ kinh tế, khoa học và công nghệ giữa nước ta với các nước phát triển trên thế giới, kể cả một số nước trong khu vực, có xu hướng ngày càng mở rộng, mà một nguyên nhân quan trọng là do chất lượng trí tuệ, năng lực sáng tạo và kỹ năng chuyên môn cũng bất cập của nguồn nguồn lực.

Trước những thách thức của thời đại cách mạng tri thức gắn liền với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, khi mà nước ta đó trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong cuộc đua tranh quyết liệt về mọi mặt, mà chủ yếu là đấu tranh về trí tuệ của các quốc gia trên toàn cầu, sự yếu kém, bất cập và tụt hậu của giáo dục và đào tạo đang trở thành lực cản đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Đặc biệt, sự nghiệp Giáo dục và Giáo dục lý luận chính trị được Đại hội toàn quốc lần thứ X đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa nhằm giáo dục con người phát triển toàn diện, nhất là thế hệ trẻ.

Đại hội X đã xác định mục tiêu giáo dục là nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, lý tưởng chủ nghĩa xã hội, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, ý chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ năng lực nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhảy cảm với chính trị, có ý chí vươn lên về khoa học – công nghệ.

Để cụ thể chủ trương đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển giáo dục một cách tổng thể và toàn diện, bắt đầu từ chủ trương phát triển giáo dục mầm non, thực hiện xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước, tạo môi trường thuận lơi dể cho mội người học tập và học tập suốt đời. Điều hành hợp lý cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống Giáo dục và đào tạo, quan tâm đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế, thực hiện tốt chính sách giáo dục gắn với phát triển kinh tế xã hội. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta lại càng phải quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp Giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân dân lao động để họ tham gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm chủ khoa học tiên tiến. Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước”; Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hội, xã hội hóa”, chấn chỉnh nền giáo dục Việt Nam; Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục.

…………………………

Download file tài liệu để xem thêm nội dung chi tiết.

Mẫu Giấy chuyển hộ khẩu chuẩn theo quy định hiện hành

GIẤY CHUYỂN HỘ KHẨU

(Phần cấp cho người chuyển hộ khẩu)

1. Họ và tên (1):………………………………………………………………………………………….

2. Tên gọi khác (nếu có):……………………………………………………………………………..

3. Ngày, tháng, năm sinh: ……./……./…………….. 4. Giới tính:…………………………….

5. Nơi sinh:……………………………………………………………………………………………….

6. Nguyên quán:………………………………………………………………………………………..

7. Dân tộc:…………………….………….. 8. Tôn giáo:…………….. 9. Quốc tịch:…………

10. Nơi thường trú:…………………………………………………………………………………….

………………………………………………………………………………………………………………

11. Họ và tên chủ hộ nơi đi:……………………………….……… 12. Quan hệ với chủ hộ:

13. Lý do chuyển hộ khẩu:…………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………

14. Nơi chuyển đến:……………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………

15. Những người trong hộ cùng chuyển hộ khẩu (2):

TT

Họ và tên

Ngày, tháng, năm sinh

Giới tính

Nguyên quán

Dân tộc

Quốc tịch

CMND số (hoặc Hộ chiếu số)

Quan hệ (3)

…….., ngày…tháng…năm… TRƯỞNG CÔNG AN……… (Ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)

(1) Viết chữ in hoa đủ dấu;

(2) Ghi theo sổ đăng ký thường trú, sổ hộ khẩu các thông tin của người trong hộ cùng chuyển hộ khẩu.

(3) Ghi mối quan hệ với người chuyển hộ khẩu tại Mục 1.

Ghi chú: Lập 02 bản, một bản cấp cho công dân để nộp tại nơi đăng ký thường trú, một bản lưu tại nơi cấp giấy.

Biển số xe 59 là ở đâu, tỉnh nào?

Xe ô tô, xe mô tô trước khi đưa vào lưu thông trên đường bộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được cấp và gắn biển số xe (biển kiểm soát xe cơ giới) riêng biệt để phục vụ công tác quản lý của nhà nước.

Hiện nay, nước ta có tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tương ứng với từng tỉnh, thành phố sẽ có một ký hiệu biển số xe riêng để phân biệt và được quy định cụ thể tại Thông tư 58/2020/TT-BCA của Bộ Công an.

Theo đó, ký hiệu biển số xe 59 là của Thành phố Hồ Chính Minh. Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh còn có sử dụng những ký hiệu biển số xe từ 41, 50 đến 58.

Thành phố Hồ Chí Minh (thường được gọi là Sài Gòn) là một trong hai thành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đô thị đặc biệt của Việt Nam, cùng với thủ đô Hà Nội.

Thành phố Hồ Chí Minh có phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông Bắc và Đông giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu, Đông Nam giáp Biển Đông và tỉnh Tiền Giang, Nam và Tây giáp tỉnh Long An.

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay được chia thành 19 quận và 5 huyện. Chi tiết ký hiệu biển số xe máy của các quận, huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay:

– Biển số xe quận 1: 59T1/T2.

– Biển số xe quận 2: 59B1.

– Biển số xe quận 3: 59F1/F2.

– Biển số xe quận 4: 59C1/C3.

– Biển số xe quận 5: 59H1/H2.

– Biển số xe quận 6: 59K1/K2.

– Biển số xe quận 7: 59C2/C4.

– Biển số xe quận 8: 59L1/L2/L3.

– Biển số xe quận 9: 59X1.

– Biển số xe quận 10: 59U1/U2.

– Biển số xe quận 11: 59M1/M2.

– Biển số xe quận 12: 59G1/G2.

– Biển số xe quận Tân Phú: 59D1/D2/D3.

– Biển số xe quận Phú Nhuận: 59E1/E2.

– Biển số xe quận Bình Tân: 59N1.

– Biển số xe quận Tân Bình: 59P1/P2/P3.

– Biển số xe quận Bình Thạnh: 59S1/S2/S3.

– Biển số xe quận Gò Vấp: 59V1/V2/V3.

– Biển số xe quận Thủ Đức: 59X2/X3.

– Biển số xe huyện Hóc Môn: 59Y1.

– Biển số xe huyện Củ Chi: 59Y2/Y3.

– Biển số xe huyện Nhà Bè: 59Z1.

– Biển số xe huyện Cần Giờ: 59Z2.

– Biển số xe huyện Bình Chánh: 59N2/N3.

Biển số xe ô tô được quy định với các ký hiệu như sau : 41A, 41D, 41C, 41B, 41LD, 41R, 41KT.

Bài thu hoạch chức danh nghề nghiệp hạng 3 Tiểu học 2021

Bài thu hoạch giáo viên tiểu học hạng 3 Tải về

Bài thu hoạch chức danh nghề nghiệp hạng 3 Tiểu học 2021 mà TTTD.VN giới thiệu ngay sau đây sẽ giúp các thầy cô tham khảo để hoàn thiện bài thu hoạch một cách dễ dàng được đánh giá cao.

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên

1. Lý do chọn vấn đề nghiên cứu, viết thu hoạch.

Qua quá trình được học tập và nghiên cứu cũng như sự hướng dẫn, truyền đạt của các giảng viên phụ trách giảng dạy Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học ở hạng III, tôi nắm bắt được các nội dung như sau:

Nắm bắt xu hướng phát triển của giáo dục, tinh thần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, các mô hình trường học mới. Những mặt đạt được và mặt hạn chế của các mô hình trường học đó. Vận dụng sáng tạo và đánh giá được việc vận dụng những kiến thức về giáo dục học và tâm sinh lý lứa tuổi vào thực tiễn giáo dục học sinh tiểu học của bản thân và đồng nghiệp. Chủ động, tích cực phối hợp với đồng nghiệp, cha mẹ học sinh và cộng đồng để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh tiểu học.

Nắm vững và vận dụng tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, quy định và yêu cầu của ngành, địa phương về giáo dục tiểu học; chủ động tuyên truyền và vận động đồng nghiệp cùng thực hiện tốt chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng. Hiểu rõ chương trình và kế hoạch giáo dục tiểu học; hướng dẫn được đồng nghiệp cùng thực hiện chương trình và kế hoạch giáo dục tiểu học.

Sau một thời gian ngắn dưới sự hướng dẫn của các giảng viên trường ……………, tôi đã được tìm hiểu 10 chuyên đề cơ bản, trong đó tập trung kiến thức chủ yếu về chính trị, về quản lí nhà nước và các kĩ năng chung gồm 4 chuyên đề; kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp chuyên ngành và đạo đức nghề nghiệp gồm 6 chuyên đề:

Chuyên đề 1: Lý luận về Nhà nước và hành chính Nhà nước.

Chuyên đề 2: Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo.

Chuyên đề 3: Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chuyên đề 4: Giáo viên với công tác tư vấn học đường trong trường Tiểu học.

Chuyên đề 5: Tổ chức hoạt động dạy học xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở trường Tiểu học.

Chuyên đề 6: Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên Tiểu học hạng III.

Chuyên đề 7: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường Tiểu học.

Chuyên đề 8: Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng ở trường Tiểu học.

Chuyên đề 9: Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong trường Tiểu học.

Chuyên đề 10: Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển trường Tiểu học.

Đây là những chuyên đề rất cần thiết và bổ ích đối với những người làm công tác giáo dục. Những chuyên đề trên đã giúp chúng tôi nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, phát triển năng lực nghề nghiệp để có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ của giáo viên giảng dạy, đáp ứng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên Tiểu học hạng III.

Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới, giai đoạn nước ta đang từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với quốc tế, việc đổi mới giáo dục là việc làm quan trọng hàng đầu. Tại Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định ‘‘Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ và tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”.

Qua quá trình được học tập và nghiên cứu cũng như sự hướng dẫn, truyền đạt của các thầy cô, tôi đã hiểu rõ hơn và rất tâm đắc với nội dung sinh hoạt chuyên môn. Sinh hoạt chuyên môn là một hoạt động hết sức quan trọng trong tất cả các hoạt động của trường tiểu học nói chung và trường Tiểu học ………… nói riêng.

Sinh hoạt chuyên môn (SHCM) không chỉ giúp mỗi giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn cho bản thân mà còn là hoạt động tạo điều kiện cho tất cả các giáo viên trao đổi, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác. Qua các buổi SHCM, giáo viên được bổ sung và nâng cao những kiến thức chuyên môn trong thực tiễn, những kỹ năng mềm dẻo trong công tác giảng dạy và quản lý học sinh.

Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn? Thực tế trong nhà trường cho thấy có tổ chuyên môn hoạt động rất mạnh nhưng vẫn còn một số tổ chuyên môn hoạt động một cách thụ động, ỷ lại vào những tồn tại như: Ít bàn về chuyên môn, sử dụng phương pháp nào cho phù hợp với bài dạy mà chỉ tập trung vào vấn đề hành chính. Do đó vấn đề SHCM hiện nay đang được cấp quản lý giáo dục quan tâm và tìm giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng của buổi sinh hoạt chuyên môn thông qua đó nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.

Xuất phát từ những lý do trên bản thân tôi nhận thấy việc sinh hoạt chuyên môn có vai trò rất quan trọng, SHCM góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Do đó tôi đã chọn chuyên đề 9 để viết bài thu hoạch cuối khóa với nội dung ‘‘Sinh hoạt chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học …………, huyện ………….., tỉnh …………”.

2. Mục đích nghiên cứu, viết bài thu hoạch

– Để đánh giá thực trạng chất lượng sinh hoạt chuyên môn tại trường Tiểu học …………, huyện ………….., tỉnh ………….

– Đưa ra mốt số biện pháp nhằm giúp tổ chuyên môn của trường Tiểu học …………, huyện ………….., tỉnh ………… nâng cao chất lượng dạy và học.

3. Nội dung chủ yếu bài thu hoạch

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận nội dung bài báo cáo gồm có ba phần chính:

  1. Cơ sở lý luận và thực tiễn ‘‘ Sinh hoạt chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học …………, huyện ………….., tỉnh …………”.
  2. Thực trạng công tác sinh hoạt chuyên môn ở trường Tiểu học …………, huyện ………….., tỉnh ………….
  3. Giải pháp sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường Tiểu học …………, huyện ………….., tỉnh ………….

PHẦN NỘI DUNG

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, viết bài thu hoạch.

1.1 Cơ sở lý luận.

1.1.1 Vị trí, nhiệm vụ, chức năng của tổ chuyên môn.

Tổ chuyên môn trong trường Tiểu học được quy định Điều 18 Văn bản hợp nhất 03/VBHN – BGDĐT năm 2014 hợp nhất Thông tư về Điều lệ trường Tiểu học do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành như sau:

(1) Tổ chuyên môn bao gồm giáo viên, viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục. Mỗi tổ ít nhất 03 thành viên. Tổ chuyên môn có tổ trưởng, nếu có từ 7 thành viên trở lên có một tổ phó.

(2) Nhiệm cụ của tổ chuyên môn:

– Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo từng tuần, từng tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục.

– Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiểm tra đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lý sử dụng sách, thiết bị của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường.

– Tham gia đánh giá xếp loại giáo viên theo quy định của chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học và giới thiệu tổ trưởng, tổ phó.

(3) Tổ chuyên môn sinh hoạt định kỳ hai tuần một lần và các sinh hoạt khác khi có nhu cầu của công việc.

Tổ chuyên môn là một bộ phận của nhà trường, gồm một nhóm giáo viên từ 3 người trở lên cùng giảng dạy về một môn học hay một nhóm môn học, hay một nhóm viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, tư vấn học đường… được tổ chức lại để cùng nhau thực hiện công tác các nhiệm vụ theo mục tiêu, chiến lược của tổ, của nhà trường đề ra. Mỗi tổ chuyên môn có tổ trưởng và 1 tổ phó do Hiệu trưởng nhà trường bổ nhiệm vào đầu năm học.

(4) Chức năng của tổ chuyên môn

– Giúp hiệu trưởng điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên quan đến công tác dạy và học.

– Trực tiếp quản lý giáo viên trong tổ theo nhiệm vụ quy định.

– Tổ chuyên môn là đầu mối để hiệu trưởng quản lí nhiều mặt, nhưng chủ yếu vẫn là hoạt động chuyên môn đó là hoạt động dạy và học ở trong nhà trường.

– Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch, điều hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của bộ giáo dục và Đào tạo và kế hoạch năm học của nhà trường. Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ, đánh giá, xếp loại và đề xuất khen thưởng, kỷ luật giáo viên thuộc tổ mình quản lí.

Do đó, Tổ trưởng chuyên môn phải là người có có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực và trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, có uy tín với đồng nghiệp và học sinh. Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng tập hợp giáo viên trong tổ, biết lắng nghe, tạo ra sự đoàn kết trong tổ, gương mẫu công bằng, kiên trì, khéo léo trong giao tiếp ứng xử.

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của tổ trưởng chuyên môn ở trường Tiểu học.

Chức năng của tổ trưởng chuyên môn.

– Giúp hiệu trưởng điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên quan đến công tác dạy và học.

– Trực tiếp quản lý giáo viên trong tổ theo nhiệm vụ quy định.

– Tổ chuyên môn là đầu mối để hiệu trưởng quản lí nhiều mặt, nhưng chủ yếu vẫn là hoạt động chuyên môn đó là hoạt động dạy và học ở trong nhà trường.

– Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch, điều hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của bộ giáo dục và Đào tạo và kế hoạch năm học của nhà trường. Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ, đánh giá, xếp loại và đề xuất khen thưởng, kỷ luật giáo viên thuộc tổ mình quản lí.

Do đó, Tổ trưởng chuyên môn phải là người có có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực và trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, có uy tín với đồng nghiệp và học sinh. Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng tập hợp giáo viên trong tổ, biết lắng nghe, tạo ra sự đoàn kết trong tổ, gương mẫu công bằng, kiên trì, khéo léo trong giao tiếp ứng xử.

Nhiệm vụ của tổ trưởng chuyên môn trong quản lí dạy học ở trường.

* Quản lý việc giảng dạy của giáo viên

– Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo từng tuần, từng tháng, học kỳ và cả năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và các hoạt động khác theo kế hoạch giáo dục, theo phân phối chương trình môn học của Bộ giáo dục và Đào tạo và theo kế hoạch năm học của nhà trường.

– Xây dựng kế hoạch cụ thể để dạy chuyên đề, tự chọn, ôn tập kiểm tra, dạy học bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém.

– Xây dựng kế hoạch cụ thể về đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học đúng đủ theo các tiết trong phân phối chương trình.

– Hướng dẫn xây dựng và quản lí việc kế hoạch cá nhân, soạn giảng của các thành viên trong tổ (Kế hoạch cá nhân dạy theo chuyên đề, tự chọn, ôn tập kiểm tra dạy học bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém, sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học đúng đủ theo các tiết trong phân phối chương trình. Soạn giáo án theo phân phối chương trình, chuẩn kiến thức, kỹ năng và sách giáo khoa, thảo luận các bài giảng khó, viết sáng kiến kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dạy và học, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém…).

– Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ, giáo viên mới tuyển dụng (đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá, dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá).

– Điều hành hoạt động của tổ (Tổ chức các cuộc họp tổ theo đình kỳ, quy định về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và các hoạt động giáo dục, lưu trữ hồ sơ, thực hiện báo cáo cho hiệu trưởng theo quy định).

– Quản lí, kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên (thực hiện hồ sơ chuyên môn, soạn giảng theo kế hoạch dạy học và phân phối chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng, ra đề kiểm tra, thực hiện việc cho điểm theo quy định, kế hoạch dự giờ của các thành viên trong tổ).

– Dự giờ giáo viên trong tổ theo quy định (4 tiết /giáo viên/ năm học).

– Các hoạt động khác (đánh giá xếp loại giáo viên, đề xuất khen thưởng, kỉ luật giáo viên …) Việc này đòi hỏi tổ trưởng chuyên môn phải nắm thật rõ về các thành viên trong tổ của mình về ưu điểm và hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy đã được phân công.

* Quản lí việc học tập của học sinh

– Nắm được kết quả học tập bộ môn quản lí để có biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục.

– Đề xuất xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động nội và ngoại khóa để thực hiện mục tiêu giáo dục.

Để xem đầy đủ nội dung Bài thu hoạch chức danh nghề nghiệp hạng 3 Tiểu học 2021, mời các bạn tải file về.

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục đào tạo trong mục biểu mẫu nhé.

Bài thu hoạch nghị quyết trung ương 5 khóa 12

Thu hoạch nghị quyết TW 5 khóa XII Tải về

Bài thu hoạch nghị quyết trung ương 5 khóa 12 là bài thu hoạch tham khảo dành cho các cán bộ tham gia lớp bồi dưỡng chính trị về thực hiện nghị quyết TW 5 khóa 12. Bài thu hoạch với nội dung học tập, quán triệt và thực hiện nghị quyết Trung ương 5 khóa XII đối với cán bộ Đảng viên. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết để có thể viết được bài thu hoạch cho riêng cá nhân mình.

Toàn văn Nghị quyết Trung ương 5 – Khóa XII

Nghị quyết Trung ương 5 về phát triển kinh tế tư nhân

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 6

Bài thu hoạch nghị quyết Trung Ương 5 khóa XII

HỌ VÀ TÊN: …………………………………………………………………………………………..

CHỨC VỤ: ……………………………………………………………………………………………..

CHI BỘ: …………………………………………………………………………………………………

Câu 1: Qua học tập Nghị quyết TW lần thứ 5 BCHTW Đảng khóa XII đ/c hãy nêu rõ nhận thức cá nhân về thực trạng (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân). Những điểm mới về thời cơ, thách thức, mục tiêu và giải pháp.

Thực hiện Kế hoạch số …………………. của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)

Vào ngày ………………………- Tôi được Học tập quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) qua …………………… của tỉnh ……………. Bản thân nhận thức được những nội dung, quan điểm cơ bản, những vấn đề mới trong các nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII), cụ thể:

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thành tựu: Qua tổng kết 15 năm (2002-2017) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp quan trọng về khuyến khích, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển. Vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ hơn và đánh giá đúng hơn.

Kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội. Tỉ trọng trong GDP của khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả kinh tế cá thể duy trì ổn định khoảng 39-40%. Đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh. Số lượng doanh nghiệp của tư nhân tăng nhanh với nhiều loại hình đa dạng; phong trào khởi nghiệp được đẩy mạnh…

Hạn chế và nguyên nhân: Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của kinh tế tư nhân nhìn chung còn thấp; chủ yếu vẫn là kinh tế hộ, cá thể. Nhiều doanh nghiệp tư nhân hoạt động thiếu ổn định, bền vững, thậm chí bị thua lỗ, giải thể, phá sản. Tình trạng vi phạm pháp luật, gian lận thương mại, trốn thuế, nợ thuế, cạnh tranh không lành mạnh, gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, không quan tâm bảo đảm lợi ích của người lao động diễn biến phức tạp, có nơi, có lúc rất nghiêm trọng…

Thời cơ, thách thức, mục tiêu và giải pháp: Bám sát Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và thực tế đất nước, cần tập trung làm rõ, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những nhiệm vụ và giải pháp lớn cần được quán triệt, triển khai thực hiện để kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, đúng đắn và lành mạnh hơn, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thành tựu: Trong 10 năm qua, việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã góp phần quan trọng duy trì tăng trưởng kinh tế, đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh…

Hạn chế và nguyên nhân: bên cạnh những kết quả, thành tựu đạt được, hiện vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, đặc biệt là: Kinh tế phát triển chưa thật sự nhanh và bền vững như mục tiêu, yêu cầu đề ra; chưa tạo được đột phá lớn trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Doanh nghiệp nhà nước chưa thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể chậm đổi mới và phát triển; kinh tế tư nhân phát triển chưa thật nhanh, bền vững và lành mạnh. Một số loại thị trường chậm hình thành và phát triển, vận hành còn nhiều vướng mắc, kém hiệu quả. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, mức độ minh bạch, ổn định chưa cao…

Thời cơ, thách thức, mục tiêu và giải pháp: Nhiệm vụ của Hội nghị lần này là trên cơ sở quán triệt thật sâu sắc Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, kế thừa, bổ sung phát triển Nghị quyết Trung ương 6 khóa X, ban hành một nghị quyết mới của Trung ương để lãnh đạo, chỉ đạo việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Thành tựu: Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta đã bàn nhiều lần, ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để sắp xếp lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả, phát triển doanh nghiệp nhà nước, và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Từ chỗ cả nước có hơn 12.000 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, đến năm 2001 giảm xuống còn 5.655 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, đến thời điểm tháng 10 năm 2016 chỉ còn 718 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.

Hạn chế và nguyên nhân: Đến nay doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước; chưa thực hiện được nhiệm vụ dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế. Nhìn chung, hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn doanh nghiệp nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư. Nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với những dự án đầu tư hàng nghìn tỉ đồng “đắp chiếu”, làm trầm trọng thêm nợ xấu ngân hàng và nợ công quốc gia, gây bức xúc trong nhân dân…

Những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do chưa xác định rõ ràng, đúng đắn chức năng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và chức năng, nhiệm vụ chính trị – xã hội của doanh nghiệp nhà nước; chưa có chuẩn mực trong hạch toán kinh doanh đúng đắn và phù hợp với doanh nghiệp nhà nước trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm hàng hóa thông thường với sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích. Việc quản lý, quản trị doanh nghiệp nhà nước chậm được đổi mới, hoàn thiện theo chuẩn mực quốc tế.

Thể chế quản lý, kiểm tra, giám sát về đầu tư và tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là về bảo lãnh vốn vay, định giá đất đai, tài sản hữu hình, vô hình còn nhiều bất cập. Công tác cán bộ, chính sách tiền lương của doanh nghiệp nhà nước chưa phù hợp với cơ chế thị trường; quyền hạn và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp nhà nước chưa đủ rõ. Cơ chế quản lý, giám sát và việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan và người đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp còn bất cập, dễ bị lợi dụng để trục lợi; tham nhũng, tiêu cực…

Thời cơ, thách thức, mục tiêu và giải pháp: Cần tạo sự thống nhất cao về vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; xây dựng mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước; đổi mới tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước lớn; phương án đổi mới mô hình tổ chức, hoạt động của tổ chức đảng và công tác cán bộ trong doanh nghiệp nhà nước.

Câu 2: Trình bày kiến nghị của mình về các biện pháp thực hiện Nghị quyết TW lần thứ 5 BCHTW Đảng khóa XII ở đơn vị đang công tác và trách nhiệm của cá nhân đồng chí?

Để tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết TW lần thứ 5 của BCHTW Đảng khóa XII trong thời gian tới, tôi xin đề xuất một số biện pháp thực hiện như sau:

Một là, bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tập trung làm rõ và nêu cao tinh thần trách nhiệm cá nhân, gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, lối sống để từ đó đề ra các hoạt động thực hiện công tác chuyên môn, nhất là các chính sách của Đảng, Nhà nước có liên quan, ảnh hưởng lớn đến mọi người dân.

Hai là, tự phê bình và phê bình thẳng thắn, dân chủ, nghiêm túc, chân thành trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng nghiệp. Thực hiện nghiêm túc Quy định về những điều Đảng viên không được làm. Làm tốt việc kiểm điểm hàng năm để có căn cứ xem xét, sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên trong chi bộ nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

Ba là, thực hiện tốt việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương, đạo đức, phong cách đạo đức Hồ Chí Minh”. Thực hiện tốt các nguyên tắc sinh hoạt Đảng.

Trách nhiệm cá nhân:

Bản thân là đảng viên giáo viên tôi luôn luôn giữ vững quan điểm, lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Học tập và nghiên cứu các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của đảng pháp luật Nhà nước, vận động gia đình và người thân. Thực hiện tốt các quy định của địa phương nơi cư trú. thực hiện tốt lối sống lành mạnh, giản dị, trung thực. luôn giữ gìn đoàn kết nội bộ, tiếp thu và lắng nghe ý kiến đóng góp đồng chí trong đơn vị. Luôn khắc phục khó khăn, đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn thành tốt công việc được giao. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực quan liêu, tham nhũng…pháp lệnh cán bộ, công chức, nội quy và quy chế làm việc tại đơn vị.

Trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác. Luôn không ngừng học hỏi để có thể thích ứng với những thay đổi, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục. Cố gắng phấn đấu trau dồi chuyên môn để có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng sử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ tin vào dạy học, biết định hướng phát triển của học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của học sinh trong hoạt động nhận thức, là tấm gương cho học sinh noi theo.

………., ngày…tháng…năm…

Người viết

Mẫu bài thu hoạch nghị quyết trung ương 5 khóa 12 dành cho Đảng viên

ĐẢNG ỦY KHỐI DOANH NGHIỆP

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

………, ngày…tháng…năm…

BÀI THU HOẠCH

dùng cho cán bộ, đảng viên tham gia học tập Nghị quyết

Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)

Họ và tên: …………………………………………………………………………………………….

Đảng viên: …………………………………………………………………………………………….

Chức vụ: ……………………………………………………………………………………………….

Đơn vị công tác: …………………………………………………………………………………….

Qua học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), đồng chí hãy nêu nhận thức của bản thân về các vấn đề sau đây:

1. Phân tích, làm rõ nhận thức của cá nhân về thực trạng (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân), những điểm mới, thời cơ, thách thức, những mục tiêu, giải pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5.

………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………..

2. Đề xuất các biện pháp tổ chức thực hiện Nghị quyết ở cơ quan, đơn vị mình công tác

……………………………………………………………………………………………………………….

………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………..

3. Liên hệ trách nhiệm cụ thể của cá nhân

……………………………………………………………………………………………………………….

………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………..

Người viết thu hoạch(Ký, ghi rõ họ và tên)

Mẫu bài thu hoạch nghị quyết trung ương 5 khóa 12 dành cho cán bộ

ĐẢNG ỦY KHỐI DOANH NGHIỆP

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

………, ngày…tháng…năm…

BÀI THU HOẠCH

dùng cho cán bộ chủ chốt tham gia học tập Nghị quyết

Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)

(do Đảng ủy Khối Doanh nghiệp đã tổ chức vào ngày 07/6/2017)

Họ và tên: ……………………………………………………………………………………………….

Chức vụ: …………………………………………………………………………………………………

Đơn vị công tác: ……………………………………………………………………………………….

Qua học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), đồng chí hãy nêu nhận thức của bản thân về các vấn đề sau đây:

1. Phân tích, làm rõ nhận thức của cá nhân về thực trạng (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân), những điểm mới, thời cơ, thách thức, những mục tiêu, giải pháp được thể hiện trong các nghị quyết Hội nghị Trung ương 5.

……………………………………………………………………………………………………………….

………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………..

2. Đề xuất, kiến nghị những giải pháp để thực hiện tốt các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) thời gian tới trong toàn Đảng bộ Khối Doanh nghiệp

……………………………………………………………………………………………………………….

………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………..

3. Liên hệ thực tiễn đơn vị công tác, đồng chí cho biết phải làm gì để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao?

……………………………………………………………………………………………………………….

………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………..

Người viết thu hoạch(Ký, ghi rõ họ và tên)

Bài thu hoạch nghị quyết trung ương 5 khóa XII mẫu 1

1- Nội dung cốt lõi theo tinh thần Nghị quyết 04, 05, 06 và kết luận 09 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

NHỮNG BIỂU HIỆN SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ” ĐƯỢC NHẬN DIỆN NHƯ SAU:

Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

– Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

– Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ hoạ theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

– Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

– Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

– Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.

– Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.

– Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.

– Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh.

– Vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

Biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống

– Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

– Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành.

– Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

– Mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”.

– Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.

– Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên…; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tuỳ tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.

– Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.

– Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội… Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

– Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.

Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ

– Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

– Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

– Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

– Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

– Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

– Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

– Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

– Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hoá, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

– Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

Mục tiêu, Quan điểm

Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách.

CÁC NHÓM NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

Đại hội XII đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, với trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá ” trong nội bộ. Các nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:

Về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình

– Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị.

– Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tế, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả.

– Xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân. Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; các cấp uỷ, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình.

– Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp uỷ các cấp.

– Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, phù hợp; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở các cấp, các ngành định kỳ hoặc đột xuất.

– Tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên hoặc đột xuất; chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích; xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm quy định về thông tin, báo chí, tuyên truyền.

– Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

– Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái. Tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

– Cấp uỷ, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân. Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong cách làm việc khoa học, cụ thể, sâu sát cơ sở cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

– Hằng năm hoặc khi chuẩn bị đề bạt, luân chuyển, điều động công tác đối với cán bộ, tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức và cán bộ, đảng viên là: chương trình hành động của tập thể và cá nhân; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; kết quả thực hiện cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; tự phê bình và phê bình; sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý; hiệu quả đấu tranh, khắc phục suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế ngày 1.11.2016.

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

1- Quan điểm, định hướng đổi mới

– Đổi mới mô hình tăng trưởng là để nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững toàn diện về cả kinh tế, xã hội và môi trường.

– Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chú trọng và ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trí sáng tạo của con người Việt Nam và thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại, mọi tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước.

– Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn kết chặt chẽ với thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế với trọng tâm ưu tiên là: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi cho khởi nghiệp và đổi mới, sáng tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học – công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài.

– Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay.

2- Một số mục tiêu cụ thể

– Tiếp tục củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát bình quân dưới 5%/năm; giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP.

– Quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2016 – 2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.

– Giai đoạn 2016 – 2020, hằng năm có khoảng 30 – 35% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân hằng năm cao hơn 5,5%; tốc độ tăng năng suất nội ngành đóng góp hơn 60% vào tăng năng suất lao động năm 2020.

– Đến năm 2020, tỉ trọng lao động có chứng chỉ đào tạo tăng lên khoảng 25%; tỉ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%.

– Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 – 2020 khoảng 30 – 35%; thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN 4.

MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN

1- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô

Tiếp tục ổn định và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc; kiểm soát tốt lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước và nợ công theo hướng bảo đảm an toàn, bền vững; xử lý có hiệu quả nợ xấu của nền kinh tế gắn với cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng yếu kém.

2- Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược

2.1- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là:

– Hoàn thiện thể chế về cổ phần hoá, định giá doanh nghiệp nhà nước; thể chế về tài sản và quyền về tài sản

– Phát triển thị trường tài chính một cách cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn; giữa thị trường vốn cổ phiếu và trái phiếu; giữa trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp; giữa dịch vụ tín dụng và các dịch vụ ngân hàng phi tín dụng; quan tâm phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm và tín dụng tiêu dùng.

– Hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công, bảo đảm hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó ưu tiên đổi mới cách thức thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư theo mức độ hiệu quả kinh tế dự tính của dự án. Có chính sách thu hút mạnh mẽ các nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện chất lượng môi trường kinh doanh, tạo niềm tin để doanh nghiệp, người dân, kiều bào ta ở nước ngoài đầu tư vốn phát triển sản xuất, kinh doanh.

– Khuyến khích và tạo thuận lợi, hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo, phát triển doanh nghiệp. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, tăng cường kết nối và phát huy tác động lan toả với các khu vực kinh tế trong nước.

– Hoàn thiện luật pháp liên quan về đất đai để khuyến khích và tạo điều kiện tích tụ đất nông nghiệp; phát triển mạnh thị trường quyền sử dụng đất, bao gồm cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, nhất là đối với đất nông nghiệp.

– Tiếp tục hoàn thiện luật pháp về lao động và thị trường lao động; tạo thuận lợi cho việc dịch chuyển lao động ở trong nước.

– Hoàn thiện chính sách, luật pháp, nâng cao năng lực thực thi pháp luật về môi trường; khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt quan tâm các khu vực trọng điểm; giám sát các vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới; ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.

– Nghiên cứu, xây dựng thể chế vượt trội cho những địa phương, vùng kinh tế động lực, khu hành chính – kinh tế đặc biệt để thực hiện tốt vai trò đầu tàu, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

2.2- Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại. Đẩy mạnh thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư, bảo đảm tính công khai, minh bạch; có cơ chế giám sát, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đối với từng dự án. Tập trung vốn đầu tư công và các nguồn vốn đầu tư khác để thực hiện một số dự án đầu tư hạ tầng trọng điểm và tại các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước. Sớm triển khai xây dựng một số khu hành chính – kinh tế đặc biệt; ưu tiên phát triển một số đô thị thông minh.

2.3- Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Thực hiện tốt cơ chế, chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ; coi trọng đào tạo đại học và trên đại học, cao đẳng và dạy nghề theo chuẩn khu vực và quốc tế.

3- Ưu tiên phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ, nhất là khoa học – công nghệ hiện đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế

– Nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ.

– Tiếp tục phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu công nghệ cao; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo. Xây dựng và thực hiện chính sách nhập khẩu công nghệ.

– Xây dựng, vận hành có hiệu quả hệ thống cơ sở dữ liệu và thực hành tốt nhất về năng suất lao động để theo dõi tình hình thực hiện và phân tích, đánh giá, dự báo.

4- Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm

4.1- Về cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước

– Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

– Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn đầu tư của Nhà nước một cách công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản nhà nước; có cơ chế kiểm soát phù hợp nguồn vốn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp;

– Xây dựng Đề án thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định; sớm xoá bỏ chức năng đại diện sở hữu của các bộ, uỷ ban nhân dân đối với vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp; đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế.

– Xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp theo nguyên tắc và cơ chế thị trường; xem xét, thực hiện biện pháp phá sản doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.

– Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ việc vay nợ và sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nhất là vay nợ nước ngoài; hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới.

4.2- Về cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng

– Tiếp tục lành mạnh hoá tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế. Từng bước xử lý và xoá bỏ tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo trong các tổ chức tín dụng có liên quan; đẩy mạnh thoái vốn ngoài ngành của các ngân hàng thương mại.

4.3- Tiếp tục cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công

4.4- Đổi mới, cơ cấu lại khu vực sự nghiệp công lập

– Tiếp tục thực hiện giao quyền tự chủ đầy đủ về tài chính, tổ chức, biên chế và hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp công lập; tính đúng, tính đủ chi phí hợp lý, điều chỉnh giá các loại dịch vụ công theo cơ chế thị trường; chuyển từ cơ chế cấp phát sang đặt hàng, từ hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp sang hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp công lập. Khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia phát triển, cung cấp dịch vụ công; phát triển thị trường dịch vụ công có sự quản lý, điều tiết phù hợp của Nhà nước.

– Sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện hạch toán như doanh nghiệp đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện; không để cổ phần hoá thành tư nhân hoá và xã hội hoá thành thương mại hoá dịch vụ công.

4.5- Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

4.6- Cơ cấu lại một cách thực chất các ngành công nghiệp

4.7- Thực hiện cơ cấu lại và phát triển nhanh các ngành dịch vụ, duy trì tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP

5- Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế

6- Đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hoá

7- Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh

– Chính sách quốc phòng, an ninh phải tạo thuận lợi và hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời, phát triển kinh tế phải góp phần gia tăng tiềm lực quốc phòng, an ninh. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tiên tiến, hiện đại.

– Ưu tiên phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo.

8- Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước

– Đổi mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng xây dựng nhà nước quản lý và phục vụ;

– Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện điện tử hoá nghiệp vụ quản lý nhà nước và xã hội hoá việc xây dựng các dữ liệu thông tin quản lý nhà nước.

– Tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế gắn với cải cách tiền lương; đổi mới mạnh mẽ quy trình, phương thức tổ chức tuyển dụng, sử dụng, trả lương, đánh giá, đề bạt cán bộ; thực hiện bổ nhiệm, đề bạt cán bộ chủ yếu dựa trên thành tích, kết quả công việc;

– Tăng cường năng lực các cơ quan chức năng quản lý và giám sát thị trường. Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, liêm chính, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương của các cơ quan nhà nước và người đứng đầu.

Nghị quyết số 06 – NQ/TW Ngày 6.11, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

1- Mục tiêu: Thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

2- Quan điểm chỉ đạo

– Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia – dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ giữa tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

– Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu. Nhà nước cần tập trung khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, nâng cao trình độ phát triển của nền kinh tế.

– Bảo đảm đồng bộ giữa đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách; chủ động xử lý các vấn đề nảy sinh; giám sát chặt chẽ và quản lý hiệu quả quá trình thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nhất là trong những lĩnh vực, vấn đề liên quan đến ổn định chính trị – xã hội.

– Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị – xã hội, đặc biệt là công đoàn, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới.

MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN

1- Chủ trương, chính sách chung

– Xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao.

– Thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới, bảo đảm nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.

– Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển nhanh và bền vững; thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị trong tình hình mới và thực thi các cam kết quốc tế.

2- Các chủ trương, chính sách cụ thể

2.1- Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức

– Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung. Nâng cao hiểu biết và sự đồng thuận của cả xã hội, đặc biệt là của doanh nghiệp, doanh nhân đối với các thoả thuận quốc tế.

– Chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Chủ động, kịp thời phát hiện, đấu tranh với các luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

2.2- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi pháp luật

2.3- Nâng cao năng lực cạnh tranh

2.4- Tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

2.5- Tăng cường quốc phòng, an ninh

2.6- Nâng cao và phát huy hiệu quả uy tín và vị thế quốc tế

2.7- Bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá dân tộc

2.8- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội

2.9- Giải quyết tốt các vấn đề môi trường

2.10- Đổi mới tổ chức, hoạt động của tổ chức công đoàn và quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

Hiện tại, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối hoặc cấp ủy cơ sở sẽ lên kế hoạch triệu tập Đảng viên tham dự các lớp học tập, quán triệt theo nghị quyết hội nghị Trung ương 6 khóa 12. Sau khi hoàn thành lớp học tập, quán triệt các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) này, học viên đều phải viết Bài thu hoạch nghị quyết Trung ương 6 khóa XII.

Văn mẫu lớp 9: Phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác (Dàn ý 6 mẫu) Viếng lăng Bác của Viễn Phương

Văn mẫu lớp 9: Phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương gồm dàn ý chi tiết, cùng 6 bài văn mẫu, giúp các em học sinh lớp 9 tham khảo, hiểu sâu sắc hơn để hoàn thiện bài viết của mình.

Thông qua 6 bài phân tích khổ 2 bài Viếng lăng Bác, các em sẽ tích lũy vốn từ, chuẩn bị hành trang để bước vào kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 sắp tới. Vậy mời các em cùng theo dõi nội dung chi tiết trong bài viết dưới đây của TTTD.VN:

Phân tích khổ 2 bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

  • Dàn ý phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác
  • Phân tích khổ 2 bài thơ Viếng lăng Bác – Mẫu 1
  • Phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác – Mẫu 2
  • Phân tích khổ thơ thứ 2 bài Viếng lăng Bác – Mẫu 3
  • Phân tích khổ 2 bài Viếng lăng Bác – Mẫu 4
  • Phân tích khổ 2 bài viếng lăng bác – Mẫu 5
  • Cảm nhận ý nghĩa khổ 2 bài thơ Viếng lăng Bác

Dàn ý phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác

I. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:

  • Viễn Phương là nhà thơ gắn bó với cuộc sống chiến đấu của bà con quê hương trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược.
  • Viếng lăng Bác thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động của nhà thơ khi vào lăng viếng Bác.

– Khái quát nội dung khổ 2: Sự thương nhớ của tác giả khi đứng trước lăng Người.

II. Thân bài:

* Khái quát về bài thơ:

  • Hoàn cảnh sáng tác: Tháng 4 năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Bác Hồ mới được khánh thành, nhà thơ Viễn Phương ra Bắc thăm Bác và đã viết ra bài thơ này. Bài thơ sau đó được in trong tập “Như mây mùa xuân” năm 1978.
  • Giá trị nội dung : Bài thơ Viếng lăng Bác thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ nói riêng và mọi người dân Việt Nam nói chung khi đến thăm lăng Bác.

* Phân tích khổ thơ thứ 2:

– Tác giả tạo ra được cặp hình ảnh thực và ẩn dụ sóng đôi: mặt trời thiên nhiên rực rỡ và hình ảnh Người.

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

+ Điệp ngữ “ngày ngày”: chỉ thời gian vô tận, tấm lòng của người dân chưa bao giờ thôi nhớ Bác.

+ Ẩn dụ “mặt trời” : Bác là mặt trời của dân tộc mang nguồn sống, ánh sáng hạnh phúc, ấm no cho cuộc sống của dân tộc -> Thể hiện niềm yêu mến kính trọng Bác.

=> Hình ảnh ẩn dụ ca ngợi sự vĩnh hằng, trường tồn của Bác trong trái tim của triệu người dân Việt.

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”

– Hình ảnh dòng người đi trong thương nhớ, đây là hình ảnh thực diễn tả nỗi xúc động bồi hồi trong lòng tiếc thương kính cẩn của người dân khi vào lăng.

– Hình ảnh thể hiện sự kết tinh đẹp đẽ “kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

+ Hình ảnh ẩn dụ “tràng hoa”: chỉ những người vào lăng viếng Bác kết thành tràng hoa rực rỡ huy hoàng, mỗi người mang một bông hoa của lòng thành kính, sự yêu mến và niềm ngưỡng vọng lãnh tụ.

-> Đoàn người vào viếng Bác là hình ảnh thực, ẩn dụ đẹp đẽ, sáng tạo của nhà thơ: cuộc đời của dân tộc ta nở hoa dưới ánh sáng cách mạng của Bác.

+ “Bảy mươi chín mùa xuân”: là hình ảnh hoán dụ chỉ số tuổi của Bác, cuộc đời Bác tận hiến cho sự phát triển của đất nước dân tộc.

=> Sự biết ơn công lao to lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh, niềm thành kính của người dân Việt Nam với vị lãnh tụ của dân tộc.

III. Kết bài:

  • Khái quát nội dung khổ thơ.
  • Nêu cảm nhận của em về khổ thơ.

Phân tích khổ 2 bài thơ Viếng lăng Bác – Mẫu 1

Sinh thời Bác vẫn luôn nhớ tới miền Nam, ngày đêm thương nhớ nơi đây, Bác xem miền Nam là niềm vui, niềm hạnh phúc, cũng là nỗi đau mà không lúc nào nguôi, miền Nam luôn ở trong trái tim Bác. Niềm thiết tha mong mỏi của Bác là miền Nam nhanh được giải phóng, đất nước 2 miền sum họp để người có dịp được vào thăm miền Nam. Và miền Nam cũng thế, ngày đêm mong thương nhớ và mong Bác, muốn được gặp Bác và như nhà thơ Tố Hữu viết:

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhàMiền Nam nhớ Bác nỗi mong cha”

Nhưng tiếc thay khi nước non được sum họp một nhà thì Bác đã ra đi. Niềm mong nhớ và tiếc thương Bác của đồng bào cả nước và đặc biệt là người dân miền Nam được dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện một cách sâu sắc và thấm thía, thành kính và thiêng liêng trong bài thơ “Viếng lăng Bác”. Bài thơ không chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng hình ảnh quen thuộc vừa giàu sức khái quát vừa lung linh gợi cảm. Bằng cảm xúc chân thực và lời thơ gợi cảm ấy Viễn Phương đã nói hộ chúng ta chân lý “Bác Hồ sống mãi trong lòng nhân dân ta trong sự nghiệp của Đảng, của nhân dân.

Mạch cảm xúc của bài thơ chính là cảm xúc chung của con dân miền Nam khi ra thăm lăng Bác. Khi tác giả đứng ở ngoài nhìn cảnh vật đã thấy bồi hồi, xúc động nhưng khi càng tiến dần vào lăng Bác thì ta càng thấy tình cảm của tác giả được thể hiện rõ hơn qua khổ thơ thứ 2 đó là cảm xúc của Viễn Phương mất

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏNgày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

ở hai câu thơ thứ đầu, ta thấy tác giả nhắc tới 2 “mặt trời”. “Mặt trời trên lăng” đó chính là vầng thái dương của vũ trụ, là mặt trời thực, còn “mặt trời trong lăng” đó là hình ảnh ẩn dụ cho Bác. Trước đây đã có nhiều tác giả ví Bác là mặt trời như Tố Hữu đã từng viết:

“Người rực rỡ như mặt trời cách mạngMà đế quốc là loài dơi hốt hoảngĐêm tàn bay chập choạng dưới chân người”

Nhưng cái sáng tạo và mới lạ là đã kết hợp các hình ảnh ẩn dụ “mặt trời” với phép nhân hóa. Nếu như mặt trời thực chói lọi, bao la, rực rỡ mà vẫn phải người mộ trước vẻ đẹp nhân cách và trí tuệ Hồ Chí Minh. Bằng cách so sánh Bác với “mặt trời” thì tác giả vừa ca ngợi sự vĩ đại vừa nhấn mạnh được tư tưởng ngời sáng của Bác, vừa bộc lộ được lòng tôn kính của người đối với nhân dân, của nhà thơ đối với Bác Hồ.

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Cảm nhận về hai câu thơ đầu của khổ 2 thì giáo sư Trần Đình Sử có viết: “ví Bác như mặt trời là hình ảnh đã quen nhưng đem so sánh với mặt trời trên lăng với mặt trời trong lăng là một sáng tạo mới, xuất thần, mà chưa hề có. Mặt trời rất đỏ làm nhớ tới trái tim nhiệt huyết, chân thành, trái tim thương nước, thương dân”

Như vậy dù dùng những hình ảnh quen thuộc nhưng với trái tim chân thành và sáng tạo của mình đã khiến hình ảnh thật đẹp và độc đáo.

Tác giả còn miêu tả lần lượt mọi người vào lăng:

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

Đối chiếu với hai câu thơ trên, tác giả sử dụng điệp từ “ngày ngày” có nghĩa là ngày tiếp ngày, tháng tiếp tháng, vòng tuần hoàn vô tận của thời gian. Trong cái vòng tuần hoàn của thời gian ấy, thì đoàn người nối nhau để vào viếng lăng Bác. Với thể thơ 8 chữ được viết xuyên mạch thì ở câu cuối của khổ 2 tác giả đã viết thành 9 chữ làm cho câu thơ dài, khiến cho nhịp thơ chậm, lại kết hợp hình ảnh ẩn dụ và sáng tạo, từ ngữ giàu sức biểu cảm miêu tả cảnh đoàn người vào lăng viếng Bác với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc. Tình cảm nhớ thương của nhân dân sẽ không bao giờ dứt mà nó kéo dài bất tận như thời gian vậy. Một người là một bông hoa thì đoàn người là tràng hoa dâng lên Bác.

Phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác – Mẫu 2

Có muôn ngàn lời thơ đã viết về Bác Hồ kính yêu với tấm lòng thành kính và yêu thương vô hạn. Những vần thơ của Viễn Phương cũng vậy, thơ ông dung dị và cảm xúc sâu lắng. Đặc biệt, ở khổ thứ hai bài thơ Viếng lăng Bác làm chúng ta lắng đọng với những vẫn thơ mộc mạc:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng.Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏNgày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

Hai câu thơ đầu được tạo nên bởi hai hình ảnh sóng đôi, hô ứng với nhau. Mặt trời của vũ trụ vô hạn vẫn ngày ngày tỏa ánh sáng ấm áp cho muôn loài. Còn hình ảnh mặt trời trong lăng là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho Bác – người cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam, đã lặng yên trong giấc ngủ ngàn thu. Màu sắc “rất đỏ” làm cho câu thơ có hình ảnh đẹp gây ấn tượng sâu xa hơn, nói lên tư tưởng cách mạng và lòng yêu nước nồng nàn của Bác. Ví Người như mặt trời chói lọi để thấy được sự trường tồn vĩnh cửu trong trái tim mỗi người con Việt Nam. Bao năm đất nước đau thương, chìm trong đêm trường nô lệ, sự hy sinh cao cả của Người như ánh dương soi sáng cho dân tộc. Sử dụng hình ảnh mặt trời để nói về Bác vừa thể hiện sự tôn kính, vừa nói lên niềm yêu thương vô hạn của nhà thơ dành cho người cha già kính yêu của dân tộc.

Ở hai câu thơ tiếp theo, là hình ảnh của dòng người vào lăng viếng Bác:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…

Dòng người vào lăng như kéo dài vô tận. tuy đông nhưng tất cả đều thành kính và trang nghiêm, ai cũng một nỗi niềm bồi hồi khi đến lăng viếng Bác. Mọi người từ khắp mọi miền Tổ quốc trở về đây như kết thành tràng hoa muôn sắc ngát hương kính dâng lên Bác. Những bông hoa tươi thắm đó đang đến những gì tốt đẹp nhất. “dâng bảy mươi chín mùa xuân”, hay chính là hình ảnh hoán dụ về con người đã sống bảy mươi chín đời người sống ngập tràn niềm hân hoan như ngày xuân.

Khổ thơ kết lại trong hình ảnh đóa hoa dâng Người với niềm tiếc thương vô hạn, những câu thơ bảy, tám và chín chữ với nhịp thơ chậm rãi như kéo dài hơn những nỗi nhớ thương khôn nguôi. Nhà thơ truyền được cảm xúc của mình đến người đọc chính bở cảm xúc của tác giả cũng là cảm xúc của đồng bào nam bộ nói riêng, của dân tộc nói chung.

Phân tích khổ thơ thứ 2 bài Viếng lăng Bác – Mẫu 3

Bác không thể mất trong ý nghĩ, tình cảm của nhà thơ cũng như mỗi chúng ta. Lòng nhớ thương và những gì đẹp nhất ở mỗi người dâng lên Bác quả đúng là hoa của đời.

Mặt trời lên cao dần và hình ảnh mặt trời lại gợi trong tác giả những liên tưởng mới:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

Mặt trời thiên nhiên theo quy luật của nó, vận hành trong vũ trụ, ngày ngày đi qua trên lăng và thấy một mặt trời khác trong lăng rất đỏ. Mặt trời trong lăng là ẩn dụ chỉ Bác Hồ. Mặt trời thiên nhiên thì đem lại ánh sáng, ban ngày, sự sống: Còn mặt trời Bác cũng là ánh sáng soi đường, đem lại cuộc sống hạnh phúc ấm no. Chi tiết đặc tả “rất đỏ” gợi trái tim đầy nhiệt huyết vì Tổ quốc, vì nhân dân, trái tim yêu thương vô hạn của Bác. Mặt trời Bác mãi tỏa sáng, tỏa ấm, tỏa thắm cho đời. Màu đỏ ấy làm ấm lại cả khung cảnh thương đau. Nhiều người đã ví Bác như mặt trời (Người rực rỡ một mặt trời cách mạng Tố Hữu), đặt mặt trời Bác sóng đôi và trường tồn cùng mặt trời thiên nhiên là sáng tạo riêng của Viễn Phương. Cách nói đó vừa ngợi ca sự vĩ đại, bất tử của Bác vừa thể hiện sự tôn kính, ngưỡng mộ, biết ơn đối với Bác.

Hình ảnh dòng người xếp hàng vào lăng viếng Bác cũng gợi bao xúc động trong lòng nhà thơ:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

Điệp ngữ “ngày ngày” vừa gợi ấn tượng về cõi trường sinh vĩnh viễn, vừa gợi tấm lòng nhân dân không nguôi nhớ Bác. Hình ảnh “dòng người đi trong thương nhớ” vừa thực vừa ảo. Nỗi nhớ thương vốn chỉ có trong lòng người nhưng ở đây nó bao trùm lên cả thời gian, không gian. Và mỗi người với lòng nhớ thương là một đóa hoa kết nên “tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” cuộc đời Bác một cuộc đời đã dâng cho đời bao hoa trái. Dòng người được tác giả ví như “tràng hoa” là một ẩn dụ độc đáo mà thích hợp. Dòng người vào viếng Bác đi thành vòng tròn dễ gợi liên tưởng đến tràng hoa. Nếu “vòng hoa” thì là viếng người đã khuất. Ở đây là “tràng hoa” để dâng “bảy mươi chín mùa xuân”. Bác không thể mất trong ý nghĩ, tình cảm của nhà thơ cũng như mỗi chúng ta. Lòng nhớ thương và những gì đẹp nhất ở mỗi người dâng lên Bác quả đúng là hoa của đời. Tràng hoa người ở đây hơn hẳn mọi tràng hoa của tự nhiên, nó được kết nên từ lòng ngưỡng mộ, thành kính, nhớ thương Bác. Nhịp thơ đoạn này chậm rãi, trải dài 8, 9 tiếng một dòng thơ, lặp lại từ ngữ, cấu trúc câu vừa diễn tả không khí thiêng liêng, thành kính trong lăng, vừa gợi bước đi chầm chậm của dòng người vào viếng Bác và lòng thành kính, thiết tha của nhân dân với Bác.

Phân tích khổ 2 bài Viếng lăng Bác – Mẫu 4

Viễn Phương là nhà thơ gắn bó với cuộc sống chiến đấu của bà con quê hương trong hai cuộc kháng chiến Pháp và chống Mỹ. Thơ ông dung dị, cảm xúc sâu lắng. Ông có nhiều bài thơ đặc sắc, trong đó “Viếng lăng Bác” là bài thơ tiêu biểu. Đọc bài thơ, ta thấy lắng đọng nhất trong những dòng thơ :

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏNgày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân”

Bài thơ “Viếng lăng Bác” được sáng tác vào tháng Tư năm 1976, khi tác giả cùng với đoàn đại biểu miền Nam ra thăm lăng Bác. Bài thơ là cảm xúc trữ tình, lòng tiếc thương vô hạn của cả dân tộc đối với Bác. Bài thơ được coi là cuộc hành hương của Viễn Phương sau bao năm chờ đợi được trở về bên người cha già kính yêu. Khổ thơ đầu của bài thơ đã miêu tả hình ảnh hàng tre trước lăng Bác. Đến khổ thơ thứ hai này, tác giả đã bộc lộ những suy nghĩ trực tiếp về Bác. Mở đầu đoạn thơ là hình ảnh đẹp nổi trội vừa mang tính cụ thể lại vừa mang ý nghĩa tượng trưng :

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Hai câu thơ sóng đôi nhau bởi hai hình ảnh mặt trời. Ở đây xuất hiện mặt trời của thiên nhiên và hình ảnh ẩn dụ cho Bác Hồ. Một sự so sánh liên tưởng rất giàu ý nghĩa. Hình ảnh thực là mặt trời đi qua trên lăng ngày ngày, là mặt trời của đất trời, là nguồn sáng lớn nhất rực rỡ và vĩnh viễn trên thế gian, mang lại ánh sáng sự sống cho con người. Còn hình ảnh ẩn dụ là “mặt trời trong lăng rất đỏ”. Đó là mặt trời của Bác Hồ, Người là nguồn sưởi ấm, nguồn sáng soi cho con đường cách mạng Việt Nam. Bác là nguồn sống nguồn hạnh phúc cho cả dân tộc Việt Nam. Trái tim ấy đã dành cả cuộc đời tìm ra đường đi cho dân tộc, hy sinh cả cuộc đời mình vì hạnh phúc của nhân dân. Đọc câu thơ, khiến người đọc liên tưởng tới những vần thơ của Tố Hữu : “Mặt trời chân lí chói qua tim”.

Cách so sánh Bác như mặt trời đã thể hiện sự vĩnh hằng của Bác trong lòng người dân Việt Nam. Bác giống như mặt trời thiên nhiên ngày ngày vẫn soi sáng, vẫn trường tồn cùng dân tộc. Đem nguồn sáng đến cho nhân dân. Đồng thời cũng thể hiện tấm lòng biết ơn, tôn kính với vị cha già dân tộc. Hòa vào dòng người vô tận với tấm lòng thành kính nhà thơ ví hình ảnh dòng người vô tận như tràng hoa đẹp đầy hương thơm và sắc thắm kính dâng lên Bác :

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Điệp ngữ “ngày ngày” được lặp lại hai lần trong khổ thơ đã thể hiện sự vĩnh cửu của Bác trong lòng người dân Việt. Ngày ngày những người con của dân tộc vẫn hướng về Người, vẫn ghi nhớ sự hy sinh lớn lao của Người cho đất nước. Một niềm thương nhớ trong lòng người mà đã vượt qua mọi thứ bao trùm lên cả đoạn thơ, cả không gian thời gian chan chứa niềm thương nhớ Bác. Niềm thương nhớ ấy kết thành cả một “tràng hoa” đầy hương và sắc dâng lên cho Người. Tràng hoa ở đây không chỉ là hoa của thiên nhiên trời đất dâng cho Người mà là cả một tràng hoa của niềm thương nhớ, biết ơn, ngưỡng mộ, thành kính đối với Bác. Hình ảnh ẩn dụ “dâng bảy mươi chín mùa xuân“ đã cho thấy được cuộc đời Bác đẹp như chính mùa xuân, bảy chín năm sống và cống hiến bảy chín mùa xuân tươi trẻ của cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng nước nhà. Tràng hoa để dâng cho “bảy chín mùa xuân” như thấy được Bác mãi sống trong lòng của người dân, dân tộc mãi dành cho Người sự thành kính thiêng liêng nhất.

Tóm lại, đoạn thơ chỉ với bốn câu nhịp thơ chậm rãi đã thể hiện được những suy nghĩ của tác giả về Bác, đã cho người đọc thấy rõ hơn về hình ảnh của Người. Người cha già vĩ đại đã dành cả cuộc đời cho dân tộc. Đồng thời bộc lộ niềm thương nhớ, sự thành kính của dân tộc đối với Bác.

Phân tích khổ 2 bài viếng lăng bác – Mẫu 5

“Bốn mươi năm trước Bác “đi xa”Cả nước đau thương mắt lệ nhòaNgoài Bắc mưa tuôn – trời vĩnh biệtTrong Nam gió nổi – đất chia xa”.

Ngày Bác mất, cả dân tộc ta chìm trong nước mắt, nước mắt của sự đau thương và xót xa tê tái lòng. Năm năm sau sự mất mát to lớn đó, lăng Bác được khánh thành, nơi đây trở thành chốn linh thiêng để nhân dân cả nước bày tỏ lòng tôn kính dành cho Người. Viếng lăng Bác là tác phẩm thể hiện rất sâu sắc cảm xúc của Viễn Phương khi lần đầu tiên vào lăng viếng Bác. Có lẽ khổ thơ thứ hai kết tinh lắng đọng nhất tư tưởng của cả bài thơ:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏNgày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

Tác giả khi ấy là người con miền Nam ra thăm miền Bắc, cùng đoàn người hành hương vào lăng viếng Người. Khổ thơ đầu tiên khái quát cảm xúc của tác giả khi đứng trước lăng với những ấn tượng về hàng tre xanh bát ngát. Đến với khổ thơ thứ hai, người đọc thấy được cảm xúc của Viễn Phương khi cùng đoàn người xếp hàng vào lăng viếng Bác.

Xuyên suốt cả khổ thơ là nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi của tác giả khi đứng trước thềm lăng. Trước tiên, đó là tấm lòng thành kính, biết ơn lãnh tụ được gói trọn trong hình ảnh ẩn dụ:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”.

Mặt trời được nhắc đi nhắc lại sóng đôi trong hai câu thơ. Nếu “mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh tả thực miêu tả bước dịch chuyển của mặt trời hàng ngày, hàng giờ gắn với bối cảnh không gian quen thuộc là “trên lăng” thì “mặt trời trong lăng” lại là ẩn dụ để chỉ Bác Hồ. Nghệ thuật nhân hóa qua động từ “thấy” nhấn mạnh vầng thái dương vũ trụ chứng kiến “mặt trời trong lăng rất đỏ” với thái độ có phần ngưỡng mộ, trân trọng. Mặt trời thiên tạo gợi ra sự kì vĩ, vĩnh hằng, nguồn gốc của sự sống và là cái nôi đem lại ánh sáng cho con người. Bác Hồ cũng vậy, Bác là người cha già vĩ đại, Bác vĩnh hằng bởi Người luôn tồn tại trong trái tim nhân dân Việt Nam, dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Từ láy “ngày ngày” đứng ở đầu câu thơ vừa diễn tả sự bất biến của tự nhiên vừa góp phần bất tử hóa hình ảnh Bác Hồ Trong lòng mọi người. Viễn Phương như đang nói hộ tấm lòng tôn kính của bao người đối với vị lãnh tụ mà cả cuộc đời:

“Chỉ biết quên mình cho hết thảyNhư dòng sông chảy nặng phù sa”

(Tố Hữu).

Trước lăng Bác, cảm xúc của tác giả cứ thế trào dâng:

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

Nghệ thuật điệp cấu trúc “ngày ngày” khiến đoạn thơ hiện lên trong tâm trí người đọc như một bản nhạc chậm rãi, tần suất lặp đi lặp lại của những người vào lăng viếng Bác cứ như một nhịp điệu đã rất quen thuộc. Hai câu thơ như vẽ ra một bức tranh từng dòng người xếp hàng, bước chân chầm chậm lắng đọng nỗi niềm xúc động bồi hồi – “đi trong thương nhớ”. Dòng người ấy như đang “kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”, mỗi người là một bông hoa, cả đoàn người là một tràng hoa đẹp diệu kì kính dâng lên Người. Đó là đóa hoa của nỗi niềm biết ơn sâu sắc, thành kính phân ưu, tiếc thương vô hạn mà nhân dân ta kính gửi tới Bác Hồ. Hoán dụ “bảy mươi chín mùa xuân” để chỉ số tuổi của Bác, đồng thời cũng là hình ảnh ẩn dụ ngợi ca cuộc đời sống đẹp và trọn vẹn, cống hiến những gì tinh túy nhất cho dân tộc của Bác. Câu thơ nhẹ nhàng mà kết tinh bao cảm xúc biết ơn ấy như chạm vào trái tim của biết bao bạn đọc.

Khổ thơ là cảm xúc của tác giả khi cùng dòng người xếp hàng vào lăng viếng Bác. Nhà thơ sử dụng các hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ có ý nghĩa sâu sắc khiến vẻ đẹp của vị lãnh tụ như càng ngời sáng hơn bao giờ hết. Bởi vậy, có thể nói đây là khổ thơ kết tinh trọn vẹn vẻ đẹp của Bác – người cha già cống hiến trọn vẹn tuổi xuân cho non sông, đất nước.

Viếng Lăng Bác là một trong số những bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Viễn Phương, bên cạnh bài làm văn Phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác, học sinh, giáo viên thường làm các bài văn như Cảm nhận của em về hình ảnh hàng tre trong khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác, Những nét đặc sắc trong bài thơ Viếng lăng Bác, Cảm nhận về bài thơ Viếng lăng Bác, hay các bài Bình luận bài thơ Viếng lăng Bác và cả những bài Bình giảng bài thơ viếng lăng bác hay Soạn bài Viếng lăng Bác.

Cảm nhận ý nghĩa khổ 2 bài thơ Viếng lăng Bác

Sau ngày đất nước giải phóng, một năm sau, Viễn Phương và đoàn cán bộ miền Nam mới có dịp ra thủ đô Hà Nội viếng lăng Bác. Biết bao nhớ thương dồn nén bấy lâu khiến nhà thơ vô cùng xúc động khi đứng trước lăng Người. Đây là lần gặp gỡ đầu tiên giữa nhà thơ và vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Hoàn cảnh gặp gỡ quá đặc biệt càng khiến cho nhà thơ ngậm ngùi cảm thương. Khổ 2 bài thơ Viếng lăng Bác đã thể hiện trọn vẹn tình cảm mến yêu và tự hào của nhà thơ đối với Bác Hồ, đối với dân tộc. Từ hình ảnh hàng tre kiên trung bất khuất, nhà thơ cảm tưởng về Người với niềm kính trọng vô hạn:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏNgày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”

Có thể thấy, khổ thơ 2 là sự tiếp nối mạch cảm xúc ở khổ thơ 1, thể hiện niềm xúc động dạt dào, mãnh liệt, thành kính và thiêng liêng của nhà thơ khi đứng trước lăng. Hai câu thơ đầu, nhà thơ sử dụng hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ để nói lên sự vĩ đại của Bác, lòng tôn kính của nhà thơ đối với Bác. Hai câu thơ sau tác giả sử dụng cách so sánh ngầm mới lạ để thể hiện tấm lòng tiếc thương, sự gắn bó của nhân dân đối với Bác. Theo đoàn người, tác giả vào thăm lăng Bác, nhà thơ nhìn thấy:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Mặt trời “ngày ngày đi qua trên lăng” là mặt trời của thiên nhiên vũ trụ, nguồn sáng lớn nhất, rực rỡ và vĩnh hằng của thế gian. Nhưng mặt trời ấy còn thấy và nhận ra một mặt trời khác, “một mặt trời trong lăng rất đỏ”. Mặt trời trên cao được nhân hoá, nhìn “mặt trời trong lăng” bằng đôi mắt của lòng ngưỡng mộ và nhân từ. Một hình ảnh chứa bao sự tôn kính đối với Bác Hồ vĩ đại!

Bằng hình ảnh ẩn dụ nhà thơ đã ví Bác là mặt trời. Người là mặt trời đỏ rực rỡ màu cách mạng sẽ mãi chiếu sáng đường chúng ta đi bằng sự nghiệp của Người. Người là nguồn sưởi ấm bất tận, là nguồn sáng vĩnh hằng chiếu rọi con đường chúng ta đi. người là hội tụ tinh anh của trời đất và tỏa sáng đến tương lai. Đây là nét nghệ thuật ẩn dụ đầy sáng tạo của tác giả. Hình ảnh ẩn dụ: “Mặt trời trong lăng rất đỏ” vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ, vừa ca ngợi công lao to lớn của Bác, vừa thể hiện sự tôn kính của nhân dân, của tác giả với Bác.

Độc đáo hơn, nhà thơ còn sáng tạo một hình ảnh khác để ca ngợi Bác.

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”

Hình ảnh dòng người đi trong thương nhớ lại kết lại thành những tràng hoa chỉ là hình ảnh tả thực so sánh những dòng người xếp lại thành hàng dài vào lăng viếng Bác trông như những tràng hoa vô tận. Nó còn có nghĩa tượng trưng: cuộc đời của họ đã nở hoa dưới ánh sáng của Bác, đó là hoa của chiến công, hoa của thành tích, hoa của lòng người.

Những bông hoa tươi thắm ấy đang đến dâng lên Người những gì tốt đẹp nhất. Dâng lên bảy mươi chín năm tuổi đẹp như bảy mươi chín mùa xuân và đã làm ra những mùa xuân cho đất nước, cho con người của Bác. Hình ảnh hoán dụ này vừa đẹp vừa mới lạ, thể hiện tình cảm thương nhớ, kính yêu và sự gắn bó của nhân dân với Bác.

Không một lời ngợi ca nhưng qua ý nghĩa khổ 2 bài thơ Viếng lăng Bác, người đọc cảm nhận được lòng kính yêu vô hạn và sự tôn vinh tột đỉnh của nhà thơ dành cho lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh, vị cha già kính yêu của dân tộc. Ẩn bên sau những hình ảnh lớn lao và chói lọi là niềm tiếc thương, nỗi nhớ mong và niềm đau của muôn triệu con người trước sự ra đi của Bác. Dẫu biết dòng đời vô thường, thế nhưng, nhà thơ không thể kìm nén nổi lòng mình. Ý chí người cách mạng đã giúp nhà thơ không bật khóc, giấu đi giọt nước mắt tiếc thương, tiếp tục nhắc mình chiến đấu bảo vệ nền độc lập nước nhà, sống xứng đáng với những hoài mong mà Bác đã dặn dò dân tộc trước lúc ra đi mãi mãi.

Thực đơn

Tháng 2 năm 1930, thực hiện chủ trương của Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng, các đồng chí Trần Văn Giác, Nguyễn Minh Tân, Nguyễn Văn Cừ thay mặt Đảng, tổ chức hội nghị thành lập chi bộ Đảng Cộng sản làng Phong Thạnh, có 3 đảng viên do đồng chí Nguyễn Văn Uông làm bí thư. Đây là Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu.

Ngày 26/01/2011, di tích lịch sử Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Bạc Liêu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia. Di tích là một mốc son lịch sử ghi dấu sự ra đời sớm nhất của tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam ở Bạc Liêu và trong khu vực lúc bấy giờ. Cùng với các tổ chức cơ sở Đảng khác trong khu vực, Chi bộ Đảng làng Phong Thạnh kịp thời lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh chống chế độ thực dân Pháp và bọn tay sai giành lấy ngọn cờ độc lập dân tộc cho Tổ quốc. Đây là tiền đề, là nền tảng để các chi bộ, Đảng bộ Bạc Liêu phát triển sau này và lãnh đạo các phong trào cách mạng của quần chúng.

Ngày 17/01/2008, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành làm lễ khởi công công trình tái hiện, tôn tạo di tích Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Bạc Liêu với tổng diện tích là 2.305,5 m2, kinh phí đầu tư dự án trên 04 tỷ đồng, gồm các hạng mục công trình như: Bia kỷ niệm, nhà trưng bày, khu dừa nước, khuôn viên cây xanh và một số hạng mục công trình khác, được hoàn thành vào cuối năm 2008. Hạng mục chính và nổi bật nhất của di tích là Bia kỷ niệm, ý nghĩa gắn liền với sự ra đời, hoạt động và tôn vinh Chi bộ Đảng làng Phong Thạnh nói riêng và Đảng bộ Bạc Liêu nói chung. Bia có ba phần chính: Phần hoa hướng dương 12 cánh tượng trưng cho mặt trời luôn chiếu sáng. Hai bên là hai bàn tay nâng hoa hướng dương nói lên sự tôn vinh chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là ánh sáng truyền bá của chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta và lan tỏa ra khắp nơi trong cả nước, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực đơn

Chính giữa hoa hướng dương là bức phù điêu diễn tả cuộc họp Chi bộ Đảng làng Phong Thạnh, với ba đảng viên đầu tiên của Chi bộ, đó là đồng chí Nguyễn Văn Uông, bí thư và hai đảng viên Trần Văn Tiện và Châu Văn Lục. Ba đồng chí này đã lãnh đạo nhân dân trong vùng đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống chế độ phong kiến và thực dân Pháp dưới nhiều hình thức. Từ một chi bộ với chỉ ba đảng viên, đã phát triển thành nhiều chi bộ, đảng bộ trong toàn tỉnh. Mặt sau của bức phù điêu là phần tóm tắt lịch sử hình thành Chi bộ. Trên cùng là biểu tượng hai cánh tay nâng lá cờ Đảng, thể hiện sự trân trọng, ơn Đảng dẫn dắt trong đấu tranh chống phong kiến và thực dân Pháp. Hạng mục thứ hai là nhà trưng bày, lấy nguyên mẩu nhà ba gian của gia đình ông Trần Văn Tiện ở trước đây, địa điểm diễn ra các cuộc họp của Chi bộ. Không gian trong nhà được sử dụng để trưng bày các tài liệu, hình ảnh, hiện vật về sự ra đời và phát triển của Chi bộ Đảng làng Phong Thạnh nói riêng, Đảng bộ Bạc Liêu nói chung. Trong nhà có tổ hợp tái hiện lại việc thành lập Chi bộ gồm 04 đồng chí: Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là người trực tiếp đứng ra triển khai và kết nạp cho 03 đồng chí: Nguyễn Văn Uông, bí thư chi bộ và 02 đảng viên Trần Văn Tiện và Châu Văn Lục.

Di tích hiện nay do Ban Quản lý di tích thuộc Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch trực tiếp tiếp quản lý, tổ chức phục vụ đón khách tham quan tất cả các ngày trong tuần, kể cả thứ Bảy, Chủ nhật, các ngày lễ, tết. Từ khi công trình được xây dựng đến nay, hàng năm đã thu hút hàng ngàn lượt khách tham quan gồm nhiều đối tượng: Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền trong tỉnh; cán bộ đảng viên, công nhân viên chức, các thầy cô giáo, học sinh và nhân dân trên địa bàn. Trở thành địa chỉ đỏ cho các hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng của các trường học, các hội đoàn thể trong tỉnh. Tuy nhiên, việc phát huy giá trị di tích còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế chưa xứng với tầm vóc, ý nghĩa của nó. Đường dẫn vào di tích đoạn từ cầu Rạch Rắn vào nhỏ hẹp chỉ lưu thông xe 2 bánh và ô tô tải trọng dưới 500kg nên các đoàn khách đến bằng ô tô không vào được. Các hiện vật trưng bày tại di tích còn khá đơn điệu; các tư liệu, tài liệu, tranh ảnh, sách báo, phim ảnh về chi bộ còn rất hạn chế. Không có phòng chiếu phim; không có không gian để tổ chức các hoạt động ngoài trời…

Để phát huy các giá trị di tích lịch sử Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Bạc Liêu trong thời gian tới, thiết nghĩ Ban quản lý di tích cần thường xuyên sưu tầm tư liệu, hiện vật, hình ảnh để làm phong phú nội dung trưng bày. Tăng cường tuyên truyền, quảng bá thông qua các hoạt động hội thảo khoa học về vai trò, ý nghĩa của sự kiện thành lập chi bộ làng Phong Thạnh; đầu tư mở rộng diện tích di tích để bổ sung các hạng mục như: Nhà chiếu phim, khu dịch vụ kết hợp hoạt động ngoài trời, khu trồng cây xanh, nhà để xe… Nâng cấp, mở rộng đường vào di tích để xe khách 45 chổ có thể vào được. Nghiên cứu kết nối với các công ty lữ hành xây dựng di tích thành điểm đến trong sản phẩm tour du lịch về nguồn. Kiến nghị Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉ đạo các thành ủy, thị ủy, huyện ủy, các sở ngành nhất là Sở Giáo dục, Khoa học và Công nghệ có kế hoạch chỉ đạo tăng cường các hoạt động về nguồn, hoạt động dã ngoại, hoạt động giáo dục truyền thống tại di tích.

Gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử cách mạng của địa phương là công việc hiệu quả nhất để giáo dục truyền thống cách mạng, làm cho mọi người luôn tin yêu, gắn bó với chế độ và phấn khởi trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.